Tỉ lệ trẻ gặp vấn đề sức khỏe rất cao, 90,3% ghi nhận ít nhất một vấn đề sức khoẻ bất thường

Admin
Trong hơn 169.000 trẻ dưới 18 tuổi được khám sàng lọc tại Hà Nội, có tới 90,3% ghi nhận ít nhất một vấn đề sức khoẻ bất thường. Trong đó, tật khúc xạ, bệnh răng miệng, thừa cân, béo phì và suy dinh dưỡng đang đặt ra nhiều thách thức trong chăm sóc sức khỏe trẻ em.
Tỉ lệ trẻ gặp vấn đề sức khỏe rất cao, 90,3% ghi nhận ít nhất một vấn đề sức khoẻ bất thường- Ảnh 1.

TS.BS Ngô Quang Hùng, Chủ tịch Hội Nhi khoa thành phố Hà Nội, Giám đốc Bệnh viện Nhi Hà Nội - Ảnh: báo Tuổi trẻ.

Thông tin được TS.BS Ngô Quang Hùng, Chủ tịch Hội Nhi khoa TP.Hà Nội, Giám đốc Bệnh viện Nhi Hà Nội chia sẻ tại Hội nghị Nhi khoa Hà Nội lần thứ II, tổ chức ngày 9-10/10 tại Bệnh viện Nhi Hà Nội.

Bác sĩ Hùng cho hay theo nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ ngày 1/5 đến 20/9/2026 tại 78/126 xã, phường có sử dụng phần mềm quản lý khám sức khỏe của Bệnh viện Nhi Hà Nội, có 220.272 trẻ đăng ký khám, trong đó 169.352 trẻ đã được khám.

Kết quả phân tích ghi nhận 152.970 trẻ có ít nhất một vấn đề sức khỏe bất thường, chiếm 90,3% số trẻ được khám.

Bệnh răng - hàm - mặt chiếm tỉ lệ cao nhất, với 67,7%; tiếp đến là các vấn đề về mắt và tật khúc xạ, chiếm 26,1%. Thừa cân, béo phì chiếm 20%, trong khi suy dinh dưỡng chiếm 11,6%.

Từ kết quả trên, nhóm nghiên cứu đề xuất tăng cường bảo vệ thị lực cho học sinh; chú trọng chăm sóc răng miệng, dinh dưỡng ở trẻ nhỏ; đồng thời ưu tiên kiểm soát thừa cân, béo phì ở lứa tuổi tiểu học thông qua chế độ ăn hợp lý và vận động thể lực.

Tỉ lệ trẻ gặp vấn đề sức khỏe rất cao, 90,3% ghi nhận ít nhất một vấn đề sức khoẻ bất thường- Ảnh 2.

Bác sĩ Bệnh viện Nhi Hà Nội khám sức khoẻ cho học sinh đầu năm học. Ảnh: BVCC

Theo bác sĩ Hùng, những kết quả này giúp nhận diện các nhóm vấn đề sức khỏe cần ưu tiên theo từng lứa tuổi và địa bàn.

Tuy nhiên, dữ liệu hiện mới phản ánh tình hình của những trẻ đã được khám và có thông tin trên phần mềm, chưa đại diện cho toàn bộ trẻ em Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu cũng mới bao phủ 78/126 xã, phường có sử dụng phần mềm của Bệnh viện Nhi Hà Nội.

Vì vậy, việc mở rộng phạm vi khám sàng lọc và nâng cao chất lượng dữ liệu là yêu cầu cần thiết để có bức tranh đầy đủ hơn về sức khỏe trẻ em.

Theo bác sĩ Hùng, mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam giai đoạn 2026-2030 cần được nhìn nhận qua bốn nhóm vấn đề trọng tâm: bệnh không lây nhiễm; sức khỏe tâm thần và phát triển; bệnh truyền nhiễm diễn biến phức tạp; bệnh lý sơ sinh và sàng lọc.

Việc nhận diện đúng mô hình bệnh tật sẽ giúp ngành y tế xây dựng các giải pháp phù hợp, từ dự phòng, sàng lọc, phát hiện sớm đến điều trị và quản lý bệnh lâu dài.

Bác sĩ Hùng cho hay, theo thống kê, bệnh không lây nhiễm ảnh hưởng đến hơn 2 tỉ trẻ em và vị thành niên trên toàn cầu mỗi năm. Mỗi năm, thế giới ghi nhận khoảng 400.000 ca ung thư mới ở trẻ em và vị thành niên, cùng khoảng 500.000 trẻ sinh ra mắc bệnh hồng cầu hình liềm.

Số ca ung thư trẻ em được dự báo tăng 7,1% vào năm 2030 và 16,4% vào năm 2045. Đông Nam Á có thể chiếm khoảng 37% gánh nặng ung thư trẻ em toàn cầu.

Trong khi đó, các bệnh truyền nhiễm vẫn là mối đe dọa. Năm 2023, châu Âu ghi nhận hơn 30.000 ca sởi, tăng hơn 30 lần so với năm trước.

Tại Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2024, cả nước ghi nhận hơn 13.000 trường hợp mắc tay chân miệng. Các trường hợp tử vong do bệnh dại cũng tiếp tục là vấn đề đáng lo ngại.

Giám đốc Bệnh viện Nhi Hà Nội cho rằng cần mở rộng số hóa khám sức khỏe học đường đến toàn bộ xã, phường, đồng thời xây dựng hệ thống giám sát bệnh tật trẻ em có khả năng liên thông dữ liệu giữa bệnh viện, trạm y tế và nhà trường. 

Tỉ lệ trẻ gặp vấn đề sức khỏe rất cao, 90,3% ghi nhận ít nhất một vấn đề sức khoẻ bất thường- Ảnh 3.Giá vàng chiều nay (9/10): Tăng mạnh, "phố vàng" sôi động trở lạiĐỌC NGAY

Cùng với đó, quy trình khám sàng lọc cần được chuẩn hóa, cán bộ y tế cơ sở cần được tập huấn và dữ liệu phải được kiểm tra chéo định kỳ nhằm bảo đảm độ tin cậy.

Phát biểu tại hội nghị, ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), cho biết công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em đã đạt nhiều kết quả, thể hiện qua sự cải thiện về tỉ lệ tử vong ở trẻ nhỏ, tình trạng dinh dưỡng và thể chất.

Tuy nhiên, suy dinh dưỡng thấp còi vẫn là vấn đề cần quan tâm, đặc biệt tại miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo ông Tuấn, cần tăng cường các mô hình chăm sóc toàn diện, từ phát hiện, chẩn đoán, điều trị sớm đến phục hồi chức năng, bảo đảm trẻ được chăm sóc liên tục.

Quỳnh Chi (t/h)