Mắc tiền đái tháo đường có cần uống thuốc?

Admin
Nhiều người khi nhận kết quả khám sức khỏe bị tiền đái tháo đường thường lo lắng rằng bệnh chắc chắn sẽ tiến triển thành đái tháo đường và phải điều trị bằng thuốc ngay. Tuy nhiên, thực tế không phải tất cả bệnh nhân đều phải dùng thuốc.
đái tháo đường - Ảnh 1.

Không phải bệnh nhân tiền đái tháo đường nào cũng cần dùng thuốc - Ảnh minh họa

Tiền đái tháo đường là gì?

Theo bác sĩ Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa nội tiết - đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, tiền đái tháo đường (prediabetes) là tình trạng đường huyết cao hơn bình thường nhưng chưa đạt ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường.

Một người được xác định mắc tiền đái tháo đường khi có một trong các tiêu chí như đường huyết lúc đói từ 5,6 mmol/L trở lên; HbA1c từ 5,7% trở lên, rối loạn dung nạp glucose với đường huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose từ 7,8 - 11,0 mmol/L.

Theo bác sĩ Bảy, nhiều quốc gia và tổ chức y khoa trên thế giới khuyến cáo cần can thiệp sớm ở người tiền đái tháo đường để giảm nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy đây không phải là một tình trạng đồng nhất.

"Những người bị tiền đái tháo đường có cơ chế bệnh sinh và nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường rất khác nhau. Vì vậy, không thể áp dụng một chiến lược điều trị giống nhau cho tất cả bệnh nhân", bác sĩ Bảy nhấn mạnh.

Theo các nghiên cứu phân tích dữ liệu lớn đã xác định được nhiều kiểu hình chuyển hóa khác nhau của tiền đái tháo đường dựa trên độ nhạy insulin, chức năng tế bào beta tụy, lượng mỡ gan, phân bố mỡ nội tạng và yếu tố di truyền.

Trong đó, có ba nhóm được đánh giá có nguy cơ cao.

- Nhóm có gan nhiễm mỡ và kháng insulin nặng: Đây là nhóm có nguy cơ rất cao tiến triển nhanh thành đái tháo đường type 2.

- Gan nhiễm mỡ không chỉ là dấu hiệu cảnh báo mà còn trực tiếp thúc đẩy các rối loạn chuyển hóa, làm tăng tình trạng kháng insulin và khiến bệnh tiến triển nhanh hơn.

- Nhóm suy giảm chức năng tế bào beta tụy: Ở nhóm này, nguyên nhân chính là khả năng tiết insulin của tế bào beta bị suy giảm.

Theo chuyên gia, đây là nhóm có cơ chế bệnh sinh khác với những người chủ yếu bị béo phì hoặc kháng insulin, do đó có thể cần chiến lược dự phòng dài hạn riêng biệt.

Nhóm tiến triển chậm nhưng xuất hiện biến chứng sớm: Những bệnh nhân này thường có tình trạng tăng insulin máu do kháng insulin và chỉ phát triển thành đái tháo đường ở giai đoạn muộn.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tổn thương cơ quan đích, đặc biệt là thận, có thể xuất hiện từ rất sớm. Nhóm này cũng được ghi nhận có nguy cơ tử vong sớm cao hơn so với nhiều nhóm tiền đái tháo đường khác.

Mắc tiền đái tháo đường có cần uống thuốc? - Ảnh 2.

Các bác sĩ tư vấn về bệnh đái tháo đường - Ảnh minh họa

Ai cần dùng thuốc khi mắc đái tháo đường?

Theo bác sĩ Bảy, thay đổi lối sống vẫn là nền tảng quan trọng nhất trong điều trị tiền đái tháo đường.

Các biện pháp bao gồm giảm cân nếu thừa cân, tăng cường vận động thể lực, điều chỉnh chế độ ăn và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc duy trì lâu dài các chương trình thay đổi hành vi không hề dễ dàng. Nghiên cứu nổi tiếng DPP (Diabetes Prevention Program) đã ghi nhận mức độ tuân thủ các biện pháp giảm cân và thay đổi lối sống giảm dần theo thời gian.

Chính vì vậy, một bộ phận người bệnh có thể cần được hỗ trợ bằng thuốc nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình tiến triển thành đái tháo đường type 2.

Hiện nay, một số nhóm thuốc đã được nghiên cứu trong dự phòng đái tháo đường như Metformin; các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 và đồng vận kép GLP-1/GIP; Thuốc ức chế SGLT-2,...

Theo bác sĩ Bảy, tiền đái tháo đường là tình trạng rất phổ biến. Tỉ lệ mắc tại nhiều quốc gia dao động khoảng 10 - 12% dân số. 

Tại Việt Nam, một nghiên cứu năm 2021 cho thấy gần 17% người trưởng thành có tiền đái tháo đường.

Vì số lượng người mắc quá lớn nên việc điều trị thuốc cho tất cả bệnh nhân là không khả thi và cũng không cần thiết.

Những trường hợp có nguy cơ cao nên được ưu tiên cân nhắc điều trị bằng thuốc như HbA1c trên 6,0%. Béo phì với BMI trên 30 kg/m²; đối với người Việt Nam có thể cân nhắc từ ngưỡng BMI trên 25 kg/m².

Có các bệnh đồng mắc như bệnh tim mạch, tăng huyết áp hoặc rối loạn lipid máu. Có sự hiện diện của các dấu ấn sinh học bất lợi như Dicarbonyl/L-xylulose reductase hoặc Glutathione S-transferase A3.

Nhiều người có thể duy trì đường huyết ổn định trong nhiều năm hoặc đưa các chỉ số trở về bình thường nếu kiểm soát tốt cân nặng, chế độ ăn và lối sống. Ngược lại, một số nhóm nguy cơ cao cần được theo dõi chặt chẽ và cân nhắc điều trị bằng thuốc ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường để ngăn ngừa biến chứng.

Do đó, điều quan trọng không phải là lo lắng khi nhận kết quả xét nghiệm, mà là được đánh giá đúng mức độ nguy cơ để lựa chọn chiến lược can thiệp phù hợp cho từng cá thể.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề