Chọn lọc vốn FDI công nghệ cao để tạo động lực tăng trưởng mới

Admin
TP.HCM đang chuyển hướng chiến lược thu hút FDI từ chạy theo số lượng sang ưu tiên các dự án công nghệ lõi, có năng lực R&D và khả năng lan tỏa công nghệ.
vốn FDI công nghệ cao - Ảnh 1.

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH MTV công nghệ cao Điện Quang trong Khu công nghệ cao TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Kỳ Phùng - Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP) - cho rằng dòng vốn FDI vẫn là động lực quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhưng điều cốt lõi là phải nâng năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam để từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, thay vì tiếp tục vai trò gia công.

Vốn FDI vẫn là động lực quan trọng

vốn FDI công nghệ cao - Ảnh 2.

Ông Nguyễn Kỳ Phùng

 * Bốn tháng đầu năm nay, tổng vốn FDI đăng ký vào TP.HCM đạt gần 3,3 tỉ USD, tăng hơn 127% so với cùng kỳ. Ông đánh giá thế nào về đóng góp của dòng vốn này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP?

- Mục tiêu tăng trưởng hai con số là một thách thức rất lớn mà TP.HCM phải nỗ lực thực hiện trong năm 2026. Và dòng vốn FDI hiện vẫn giữ vai trò động lực quan trọng. 

Riêng tại Khu công nghệ cao TP.HCM, năm 2025 giá trị xuất khẩu đạt khoảng 20 tỉ USD, chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của TP.HCM cũ; giá trị sản xuất toàn khu đạt khoảng 23 tỉ USD, tăng gần 15% so với năm trước, với đóng góp lớn từ khối doanh nghiệp FDI.

Tuy nhiên, TP.HCM hiện không còn ưu tiên số lượng hay quy mô vốn đăng ký, mà chuyển sang chọn lọc chất lượng dòng vốn. TP ưu tiên các dự án công nghệ lõi, có trung tâm R&D, khả năng chuyển giao công nghệ và tạo tác động lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước. 

Đồng thời, tiêu chí suất đầu tư trên mỗi ha đất cũng được chú trọng, hướng đến các dự án giá trị gia tăng cao như trung tâm dữ liệu với mức đầu tư lên tới 80 triệu USD/ha.

* TP.HCM đang định hướng thu hút FDI theo chiều sâu trong giai đoạn 2026 - 2030, việc này tại SHTP triển khai thế nào?

- Thực tế hiện nay tại SHTP, vốn FDI chiếm tỉ trọng khoảng 80 - 90% tổng giá trị hoạt động. Vì thế, nếu doanh nghiệp trong nước không lớn mạnh lên để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chúng ta sẽ rất khó thoát khỏi vai trò gia công hoặc sản xuất phụ trợ, chưa thể làm chủ công nghệ lõi. 

Vì vậy, trong giai đoạn 2026 - 2030, SHTP đang chuyển từ tư duy "thu hút dự án" sang "lựa chọn nhà đầu tư chiến lược".

Những dự án được ưu tiên phải có hàm lượng công nghệ cao, có cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và có khả năng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam để hình thành chuỗi cung ứng nội địa.

Các lĩnh vực ưu tiên hiện nay gồm vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghệ xanh. Song song đó, SHTP cũng đang định hướng phát triển mô hình mới thay vì chỉ là một khu sản xuất công nghiệp thuần túy.

Cụ thể, SHTP dự kiến mở rộng thêm khoảng 200ha để xây dựng Công viên Khoa học - nơi tập trung các hoạt động nghiên cứu, ươm tạo công nghệ, sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Đây sẽ là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tích hợp hoàn chỉnh hơn.

Thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Giá trị của chúng ta hiện tại chỉ đang nằm ở các công đoạn phụ trợ hoặc giá trị thấp. 

Nếu không cải thiện được năng lực công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt sẽ khó hấp thụ được chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI.

Khi đó, dù thu hút được nhiều dự án lớn, chúng ta vẫn khó tạo ra hiệu ứng lan tỏa thực chất cho nền kinh tế.

Nhà nước đặt hàng doanh nghiệp

* TP.HCM cần làm gì để biến lợi thế công nghệ thành động lực tăng trưởng thực chất?

- Trên thực tế, nhiều công nghệ chiến lược như vi mạch bán dẫn, drone, robot, tự động hóa... đã xuất hiện và được phát triển tại Khu công nghệ cao từ nhiều năm nay.

TP có lợi thế hội tụ được các tập đoàn công nghệ lớn như Intel, Samsung cùng mạng lưới đại học, viện nghiên cứu và nguồn nhân lực công nghệ khá mạnh. 

Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghệ chiến lược trong tương lai. Tuy nhiên, để biến kỳ vọng thành kết quả thực chất thì cần giải quyết nhiều vấn đề mang tính nền tảng.

Trước hết là phải nâng cấp hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các vườn ươm hiện nay cần được phát triển thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế, có khả năng hỗ trợ start-up và doanh nghiệp công nghệ đi từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm.

Điểm quan trọng thứ hai là cơ chế "đặt hàng" từ Nhà nước. Trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là các công nghệ chiến lược như UAV, AI hay blockchain, Nhà nước cần đóng vai trò khách hàng đầu tiên để tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. 

Ví dụ, nếu Nhà nước đặt hàng drone phục vụ cứu hộ, an ninh quốc phòng hoặc giám sát hạ tầng, doanh nghiệp trong nước sẽ có cơ hội phát triển sản phẩm, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa.

Ngoài ra, cần có các cơ chế đặc thù như sandbox để thử nghiệm chính sách, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp và chấp nhận mức độ rủi ro nhất định trong đầu tư công nghệ.

Một vấn đề khác là phải giải quyết "điểm đứt gãy" giữa nghiên cứu và thương mại hóa. Hiện nay, nhiều sản phẩm mẫu được nghiên cứu khá tốt nhưng không thể đi ra thị trường vì thiếu cơ chế hỗ trợ.

Cuối cùng, vai trò dẫn dắt của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng. Sở Khoa học và Công nghệ cần đóng vai trò chủ trì kết nối toàn hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của TP, thay vì chỉ tập trung nguồn lực vào riêng Khu công nghệ cao.

* Ông Bok Dug-gyou (đại diện Cơ quan Xúc tiến thương mại - đầu tư Hàn Quốc):

Xây dựng chiến lược để thu hút nguồn vốn FDI đi kèm công nghệ lõi

Chọn lọc vốn FDI công nghệ cao để tạo động lực tăng trưởng mới - Ảnh 3.

Đến nay, Việt Nam chưa hấp thụ được công nghệ như Trung Quốc từng làm vì nhiều nguyên nhân.

Nhiều doanh nghiệp nội địa cũng chưa vượt qua được các tiêu chuẩn khắt khe từ các tập đoàn lớn như Samsung hay LG để trờ thành nhà cung cấp.

Hiện, khối FDI chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu, song tỉ lệ giá trị gia tăng nội địa của ngành sản xuất Việt Nam mới chỉ đạt 12%, so với trung bình ASEAN là 33%.

Doanh nghiệp quốc tế đánh giá đây là "vùng trũng" để cho nguồn vốn FDI lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tại Hàn Quốc đổ vốn vào.

Dù vậy, điều đó không đồng nghĩa Việt Nam mãi là nơi gia công thuần túy. Thay vì chỉ tập trung vào các "ông lớn", Chính phủ Việt Nam nên thu hút các doanh nghiệp cấp 2 và cấp 3 (SMEs) từ Hàn Quốc.

Những doanh nghiệp này dễ chuyển giao công nghệ hơn, cần ít vốn đầu tư hơn và có thể trở thành đối tượng để doanh nghiệp Việt thực hiện M&A (mua lại và sáp nhập).

* Ông Ki-chang Kwon (Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Nhà nhập khẩu Hàn Quốc):

Giải quyết vấn đề nhân lực để không gián đoạn dòng chảy FDI

Chọn lọc vốn FDI công nghệ cao để tạo động lực tăng trưởng mới - Ảnh 3.

Đứng dưới góc độ nhìn lại những bài học thực tế đã xảy ra, Việt Nam hiện có nhiều điểm tương đồng trong việc thu hút nguồn vốn khi so sánh với mô hình của Singapore và giai đoạn đầu của Trung Quốc,...

Theo tôi, doanh nghiệp Việt cần nâng cao chuyên môn của lực lượng lao động để giữ chân dòng vốn FDI mà không làm gián đoạn dòng chảy này.

Trong đó, cần tập trung vào các ngành mà mình có lợi thế so sánh và cạnh tranh như dệt may và các mặt hàng sản xuất phổ biến trước khi chuyển sang những ngành công nghiệp có mức độ phức tạp cao hơn như máy móc và ô tô.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề