Thu nhập cao năm 2045: Mục tiêu trong tầm tay

Admin
Thoạt nhìn, mục tiêu này có vẻ đầy tham vọng nhưng khi nhìn lại tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người trong 20 năm qua chỉ thấp hơn con số này một chút, việc Việt Nam đạt được vị thế quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 là hoàn toàn trong tầm tay.
2045 - Ảnh 1.

Minh họa

Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Để chạm ngưỡng thu nhập cao theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (hiện khoảng 14.000 USD), tăng trưởng sản lượng (JONATHAN PINCUS

Thành công từ chiến lược xuất khẩu

Cách đây 25 năm, Việt Nam đã bắt đầu triển khai chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Các hiệp định thương mại và đầu tư đa phương, khu vực và song phương đã giúp giảm bớt các rào cản đối với đầu tư nước ngoài, nhập khẩu máy móc, nguyên liệu thô cùng linh kiện công nghiệp, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Hệ thống hạ tầng giao thông và năng lượng cũng đã được quy hoạch và xây dựng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn cho sự phát triển công nghiệp và giao thương.

TIN LIÊN QUANThu nhập cao năm 2045: Mục tiêu trong tầm tay - Ảnh 3.Thu nhập cao năm 2045: Mục tiêu trong tầm tay - Ảnh 5.

Minh hoạ

Ba thách thức lớn

Dù vậy, nếu không có sự thay đổi về chiến lược, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam có khả năng sẽ chậm lại trong những năm tới vì ít nhất ba lý do sau đây.

Thách thức đầu tiên nằm ở yếu tố nhân khẩu học. Nguồn lao động giá rẻ sẵn có từng là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng thần tốc của Việt Nam. Phần lớn mức tăng trưởng năng suất trong giai đoạn này đến từ việc hàng triệu người dân chuyển đổi từ làm nông nghiệp hoặc các nghề dịch vụ truyền thống vốn có năng suất thấp sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp có kỹ năng thấp.

Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cùng với tỉ lệ sinh đi xuống làm suy giảm nguồn lao động thiếu việc làm ở nông thôn. Trong tương lai, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh gay gắt để thu hút nhân công, đồng nghĩa với việc tiền lương sẽ tăng lên. Khi đó tăng trưởng năng suất sẽ phải dựa vào việc gia tăng giá trị trong quy trình sản xuất chứ không còn dựa vào việc chuyển dịch lao động từ đồng ruộng vào nhà máy như trước.

Tỉ lệ sinh giảm cuối cùng sẽ làm tăng tỉ trọng người già trong dân số, dẫn đến lực lượng lao động bị thu hẹp và gánh nặng chi phí đè nặng lên những người trong độ tuổi lao động. Các chuyên gia nhân khẩu học dự báo rằng "thời kỳ dân số vàng" của Việt Nam sẽ kết thúc vào năm 2036 và sau thời điểm đó tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại.

Thách thức thứ hai là khả năng tiếp cận ngoại hối. Giống như hầu hết các nước đang phát triển, Việt Nam đối mặt với sự ràng buộc của cán cân thanh toán đối với tăng trưởng. Nền kinh tế cần đô la (USD) để chi trả cho việc nhập khẩu máy móc, nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp và hàng tiêu dùng.

Tình trạng thiếu hụt đô la buộc Ngân hàng Nhà nước phải tăng lãi suất để thu hút dòng vốn ngoại tệ chảy vào và hạn chế tiêu dùng. Nhưng tại sao Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, lại phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt đô la?

2045 - Ảnh 3.

Minh hoạ

Có một vài lý do dẫn đến tình trạng khan hiếm đô la kéo dài. Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có độ thâm dụng nhập khẩu rất cao. Theo OECD, cứ mỗi 1 USD hàng xuất khẩu thì phát sinh 0,55 USD giá trị hàng nhập khẩu. Thứ hai là tình trạng tháo chạy vốn, được ghi nhận trong mục "lỗi và sai sót" của cán cân thanh toán.

Đô la rời khỏi nền kinh tế thông qua cả con đường hợp pháp và bất hợp pháp, như các giao dịch vàng và đô la không có chứng từ, gian lận hóa đơn thương mại và gần đây nhất là các giao dịch tiền mã hóa. Trong năm 2024, mục "lỗi và sai sót" này đã chiếm tới 33 tỉ USD, tương đương 6,9% GDP.

Cuối cùng, Việt Nam đã tận dụng tốt tỉ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào ở mức cao, trung bình đạt 5% GDP trong suốt 25 năm qua. Điều này là tích cực vì đầu tư nước ngoài mang lại công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, tạo ra việc làm và thúc đẩy xuất khẩu.

Tuy nhiên nó cũng làm tăng dòng vốn chảy ra khỏi Việt Nam theo hình thức lợi nhuận chuyển về nước. Tỉ lệ này đã tăng liên tục so với quy mô GDP trong hai thập kỷ qua, đạt mức cao kỷ lục 5,2% GDP vào năm 2023.

Thách thức thứ ba, và có lẽ là vấn đề quan trọng nhất, chính là mối liên kết công nghệ lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp nội địa.

Một trong những lợi ích cốt lõi của đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam là các công ty FDI tạo ra nhu cầu sản xuất nội địa đối với các yếu tố đầu vào có hàm lượng công nghệ cao và trong một số trường hợp, họ thực hiện chuyển giao công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước sản xuất các yếu tố đầu vào này.

Những mối liên kết trong chuỗi cung ứng này giúp nâng cao năng suất của các công ty nội địa, từ đó gia tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, mở rộng triển vọng tăng trưởng, đồng thời cải thiện khả năng tiếp thu và áp dụng các công nghệ cũng như quy trình quản trị mới.

Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có xu hướng ưu tiên nhập khẩu các yếu tố đầu vào hoặc thu mua đầu vào nội địa từ các doanh nghiệp FDI khác. Nguyên nhân là do khối FDI có các yêu cầu khắt khe về thiết kế, chất lượng và tiến độ giao hàng mà các doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng.

Bên cạnh đó, nội dung thiết kế và hàm lượng công nghệ của các yếu tố đầu vào công nghiệp thay đổi rất nhanh chóng, trong khi các công ty nội địa lại thiếu kiến thức và thông tin cần thiết để bắt kịp với những bước tiến mới. Hệ quả là sự gia tăng năng suất trong ngành sản xuất diễn ra tương đối chậm chạp.

2045 - Ảnh 4.

Nguồn: CỤC THỐNG KÊ, dữ liệu NGỌC ĐỨC - Đồ họa: HẢI HÀ

Gợi ý từ châu Âu

Tổng hòa lại, ba vấn đề nêu trên đang đặt ra thách thức đối với chiến lược tăng trưởng hiện tại và thôi thúc Chính phủ đề xuất một mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam sẽ tiến mạnh vào các ngành công nghiệp công nghệ cao như bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, năng lượng tái tạo, hàng không vũ trụ và công nghệ lượng tử.

Mặc dù điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia là khác nhau nhưng một số nước đã áp dụng chiến lược tương đồng bao gồm: mở cửa thương mại, tận dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghiệp tiên tiến, nâng cấp các trường đại học trong nước và tích hợp các doanh nghiệp nội địa vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Mô hình này được mở đường ở Ireland và sau đó được các thành viên mới của

Đồ họa: HẢI HÀ

Nâng chất nguồn nhân lực

Theo nghị quyết 57 ban hành tháng 12-2024, đến năm 2030 Chính phủ sẽ tăng chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 2% GDP, đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% vào GDP năm 2030 và 50% vào năm 2045. Nâng cấp các trường đại học quốc gia và vùng sẽ giúp cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời hình thành nên các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo mới.

Việt Nam sẽ tiến lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị công nghiệp thuộc những ngành mới nổi, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các hoạt động gia công, lắp ráp và gia tăng tỉ lệ nội địa hóa của hàng hóa xuất khẩu. Các kỹ năng và năng lực tích hợp trong lực lượng lao động sẽ được ưu tiên hơn là quy mô của lực lượng lao động đó.

Nâng cấp các ngành công nghiệp nội địa sẽ giảm bớt nhu cầu nhập khẩu linh kiện, giúp tiết kiệm nguồn ngoại hối khan hiếm và tạo ra doanh thu xuất khẩu cao hơn. Bên cạnh đó nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp trong nước sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ khối ngoại sang khối nội, giúp các doanh nghiệp nội địa đạt năng suất và khả năng cạnh tranh cao hơn.

Thu nhập cao năm 2045: Mục tiêu trong tầm tay - Ảnh 7.'GDP của Việt Nam phải tăng 5 lần trong 20 năm tới để đạt mục tiêu trăm năm'

Để trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, GDP Việt Nam phải tăng ít nhất 5 lần trong 20 năm tới. Nếu 10 năm đầu tăng trưởng 10%, 10 năm tiếp theo vẫn phải tăng trưởng 7% thì mới đạt mục tiêu trăm năm thành lập nước.