'Make in Vietnam': lựa chọn chiến lược

Admin
Năm 2026, đánh dấu bản lề của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, với yêu cầu tăng trưởng cao buộc phải gắn với nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
'Make in Vietnam': lựa chọn chiến lược - Ảnh 1.

Chế biến đồ gỗ xuất khẩu đi Mỹ tại một công ty ở tỉnh Tây Ninh - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Trong bối cảnh mô hình chính sách Phát động giải thưởng 'Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam'VNPT ra mắt công ty AI, đặt mục tiêu dẫn đầu công nghệ 'Make in Vietnam'Năm 2030, ít nhất 3 nền tảng điện toán đám mây 'Make in Vietnam' đạt chuẩn quốc tế

So sánh với mô hình "Swiss Made" của Thụy Sĩ cho thấy sự khác biệt mang tính bản chất. "Swiss Made" không phải là khẩu hiệu tiếp thị, đó là chỉ dẫn xuất xứ được luật hóa, với các tiêu chí định lượng chặt chẽ về tỉ lệ giá trị gia tăng nội địa, xác định khâu công nghệ cốt lõi, lắp ráp và kiểm định cuối cùng đi kèm trách nhiệm pháp lý rất rõ ràng.

Nhờ đó "Swiss Made" trở thành một cam kết và uy tín quốc gia về chất lượng, cho phép sản phẩm mang nhãn này đạt mức định giá cao và sự tin cậy trên thị trường toàn cầu.

Trong khi đó Đức với "Made in Germany/German Engineering" hay Nhật Bản với triết lý "Monozukuri - Japan Quality" không xây dựng nhãn xuất xứ quốc gia kiểu như Thụy Sĩ nhưng vẫn tạo dựng uy tín toàn cầu nhờ hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, kỷ luật chất lượng trong sản xuất và các ràng buộc trách nhiệm pháp lý cao đối với sản phẩm.

Ngược lại, Ấn Độ với chiến lược "Make in India" được đề ra từ hàng chục năm trước, tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất, thu hút FDI và thay thế nhập khẩu thông qua các cơ chế khuyến khích thay cho việc xây dựng chuẩn xuất xứ và chất lượng để tạo "premium" giá.

Cách tiếp cận này cho phép đạt được thành công về quy mô và năng lực sản xuất nhưng đồng thời cũng hạn chế khả năng hình thành thương hiệu quốc gia dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng cao.

Vấn đề của "Make in Vietnam" là vừa thiếu tiêu chí cụ thể vừa chưa rõ mình muốn đi theo mô hình nào.

Việt Nam chưa có năng lực công nghiệp đủ lớn để cạnh tranh bằng quy mô như Ấn Độ, đồng thời cũng chưa hình thành được hệ sinh thái công nghiệp và khung pháp lý đủ mạnh để xây dựng uy tín chất lượng như Đức hay Nhật Bản, chưa nói tới chuẩn mực xuất xứ được luật hóa nghiêm ngặt như của Thụy Sĩ.

Trong bối cảnh đó, để "Make in Vietnam" thực sự phát huy hiệu quả cần được tái thiết kế dựa trên ba trụ cột cốt lõi.

Thứ nhất là nội hàm giá trị gia tăng, trong đó xác định rõ tỉ lệ giá trị được tạo ra trong nước, có phân biệt theo ngành và trình độ công nghệ thay vì chỉ dựa vào tiêu chí địa điểm lắp ráp.

Thứ hai là làm chủ các khâu cốt lõi, bao gồm thiết kế, công nghệ nền tảng, phần mềm điều khiển và quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ ba là chất lượng và tiêu chuẩn, yêu cầu sản phẩm đáp ứng các chuẩn mực kỹ thuật, môi trường và an toàn tương thích với thị trường mục tiêu chứ không chỉ giới hạn trong chuẩn mực của thị trường nội địa.

Trên cơ sở đó, "Make in Vietnam" cần được gắn với một cơ chế chứng nhận minh bạch và có uy tín thay vì để doanh nghiệp tự dán nhãn.

Quan trọng hơn, chứng nhận phải đi kèm với cơ chế khuyến khích kinh tế có điều kiện, chẳng hạn như ưu tiên trong mua sắm công, hỗ trợ R&D, tín dụng ưu đãi hoặc xúc tiến thương mại…

Nếu được tái cấu trúc theo hướng chuẩn mực hóa, "Make in Vietnam" có thể trở thành một công cụ chính sách công nghiệp quan trọng, giúp điều phối nguồn lực, thúc đẩy nâng cấp năng lực doanh nghiệp và từng bước định vị Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

"Make in Vietnam": lựa chọn chiến lược - Ảnh 1.Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt kết quả ấn tượng, tăng 8,02%

Số liệu được Cục Thống kê công bố chiều nay (5-1) cho thấy tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02% so với năm trước.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề