Chinh phục những vì sao - Kỳ 6: Phi hành gia Mỹ Alan Shepard - người thứ hai lên vũ trụ

Admin
24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury.
vũ trụ - Ảnh 1.

Alan Shepard trong khoang tàu - Ảnh: NASA

Trong cuộc đua vào kỷ nguyên vũ trụ với Liên Xô, siêu cường Mỹ bị chậm giai đoạn đầu. Theo lịch sử Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA), ngày 25-5-1961 John F. Kennedy tuyên bố trước phiên họp chung đặc biệt của quốc hội về mục tiêu đầy tham vọng đưa người Mỹ an toàn lên Mặt trăng rồi trở về trước cuối thập niên này. Tổng thống Mỹ thứ 35 có áp lực phải vượt Liên Xô trong hành trình chinh phục vũ trụ.

Cuộc đua đưa người lên vũ trụ

Theo các sử gia NASA như Roger D. Launius, sở dĩ Mỹ lúc này đã có sự tự tin mạnh mẽ vì vừa phóng thành công phi hành gia Alan Shepard trong dự án Mercury (Sao Thủy). Mốc điểm chương trình đưa người lên vũ trụ của hai siêu cường bắt đầu từ năm 1958.

Trước đó, cả Liên Xô và Mỹ đều đã phóng thành công các vệ tinh không người lái Sputnik và Explorer lên quỹ đạo. Các vụ phóng tiếp theo thử nghiệm đưa sinh vật Trái đất lên không gian (Liên Xô phóng chó, Mỹ phóng tinh tinh) đã thành công, mặc dù cũng có vụ thất bại làm các "phi hành gia" không biết nói này phải hy sinh để con người thực hiện giấc mơ chạm đến những vì sao.

Ngày 5-5-1961 (tức 24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury được đẩy bằng một biến thể cải tiến của tên lửa Redstone.

Nếu tính cụ thể ngày tháng kể từ khi quyết định dự án đưa lên vũ trụ, Liên Xô và Mỹ chỉ mất hơn hai năm. Tuy nhiên, cả hai siêu cường đều đã thực hiện hàng chục vụ phóng thử nghiệm. Đặc biệt, hai nền tảng tên lửa của Mỹ và Liên Xô đều có những phần kỹ thuật được phát triển từ chính tên lửa V-2 của Đức thời Thế chiến 2.

Tuyển chọn phi công

Nguồn tài liệu lịch sử của NASA ghi lại ngày 7-10-1958, họ đã công bố Mercury - dự án lớn đầu tiên của mình ngay sau khi NASA bắt đầu hoạt động. Dự án có ba mục tiêu quan trọng là phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo quanh Trái đất, kiểm tra khả năng con người trên không gian để có thể tiếp tục các chuyến bay xa hơn và đưa phi hành gia về Trái đất an toàn.

Xác định con người là phần quan trọng cốt lõi của dự án này, việc tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia được bắt đầu sớm ngay từ tháng 1-1959. Có 508 hồ sơ được thẩm định mà đa phần là các phi công quân sự, phi công thử nghiệm tài năng đã trải nhiều giờ bay.

"Ngày 9-4-1959, NASA chính thức giới thiệu với quốc gia và thế giới bảy phi hành gia Mercury của mình. Sự kiện diễn ra tại phòng khiêu vũ của khách sạn Dolley Madison House trên quảng trường Lafayette ở Washington, D.C., nơi khi đó là trụ sở đầu tiên của cơ quan vũ trụ mới thành lập.

Các phi hành gia ngồi quanh một chiếc bàn dài trên một sân khấu tạm thời và Giám đốc NASA T. Keith Glennan đã giới thiệu họ theo thứ tự bảng chữ cái: "Malcolm S. Carpenter, Leroy G. Cooper, John H. Glenn, Virgil I. Grissom, Walter M. Schirra, Alan B. Shepard và Donald K. Slayton... những phi hành gia Mercury của quốc gia!".

Sau một buổi chụp ảnh ngắn, trong 90 phút tiếp theo các phi hành gia mới đã trả lời nhiều câu hỏi từ các phóng viên có mặt trong phòng khiêu vũ.

Đối với hầu hết họ, đây là một trải nghiệm mới vì trước đó họ ít có cơ hội tiếp xúc với giới truyền thông trong công việc trước đây của mình với tư cách là phi công thử nghiệm.

Khi sự kiện kết thúc, họ nhận ra rằng cuộc sống của họ đã thay đổi mãi mãi, và sự chú ý của công chúng sẽ trở thành một phần công việc của họ, cũng quan trọng như việc huấn luyện và bay vào vũ trụ", đây là một đoạn trích trong bài "60 năm trước: NASA giới thiệu các phi hành gia Mercury 7" trên trang lịch sử NASA.

Mặc dù còn mới mẻ và chưa hề có kinh nghiệm, việc tuyển chọn phi hành gia của NASA vẫn diễn ra rất khắt khe. Ban đầu hồ sơ có những người làm các ngành nghề chịu áp lực rủi ro cao nhưng sau đó NASA cùng với sự đồng thuận của chính tổng thống Mỹ đã ưu tiên chọn phi công quân sự bay thử nghiệm.

Từ hơn 500 người, chọn 110 người, sau đó còn 32 người và cuối cùng còn bảy người. Họ đã xuất sắc vượt qua các vòng kiểm tra nghiêm ngặt. Riêng bảy người cuối cùng đã vượt qua cuộc kiểm tra y tế chuyên sâu kéo dài một tuần tại Phòng khám Lovelace ở New Mexico và thêm một tuần kiểm tra thể lực cùng tâm lý chịu đựng gian khổ.

Trong buổi chính thức ra mắt với thế giới ngày 9-4-1959 tại văn phòng NASA ở quảng trường Lafayette, Washington, D.C, cả bảy phi hành gia đều cười rất tươi và giơ tay khi được hỏi có tự tin bay vào vũ trụ và trở về hay không, thậm chí có người còn giơ cả hai tay.

Trong đó, Alan Shepard (1923-1998) là sĩ quan không hải quân, từng tham chiến Thế chiến 2 và từ năm 1950 là phi công quân sự bay thử nghiệm dày dạn. Ông chính là chọn lựa cuối cùng trong ba người được chọn cho chuyến bay đầu tiên.

vũ trụ - Ảnh 2.

Phi thuyền Mercury - Redstone 3 trước giờ phóng - Ảnh: NASA

Ngày lịch sử của Mỹ

Bình minh 5-5-1961, ngày lịch sử của chương trình vũ trụ Mỹ. Tại Trạm không quân Mũi Canaveral, Florida, Shepard tự tin leo vào khoang phi hành gia trên phi thuyền Mercury - Redstone 3 mà chính ông đặt tên chuyến bay Freedom 7 (Tự do 7) tượng trưng cho bảy người bạn phi hành gia phục vụ dự án Mercury.

Theo kế hoạch, ông đã vào tàu khoảng hai giờ trước giờ phóng dự kiến lúc 7h20. Tuy nhiên, một sự chậm trễ kỹ thuật xảy ra. Shepard đã nói một câu được ghi lại: "Sao các ông không khắc phục vấn đề nhỏ và thắp sáng ngọn nến này đi?".

24 ngày trước đó, lúc chuẩn bị phóng tàu Vostok 1, phi hành gia Liên Xô Gagarin cũng nói hai từ được ghi vào sách sử: "Đi thôi".

Lúc 9h45 ngày 5-5-1961, người Mỹ đầu tiên đã bay vào không gian vũ trụ. Trang National air and space museum ghi lại sự kiện lịch sử này:

"Tên lửa bốc cháy trong hơn hai phút, gia tốc ép ông vào ghế sofa với lực hơn sáu "G" (sáu lần trọng lực Trái đất). Sau khi tách ra, khoang tàu quay ngược lại và hướng tấm chắn nhiệt về phía trước để tái nhập khí quyển.

Trong năm phút không trọng lực, Shepard đã thử nghiệm hệ thống điều khiển hướng của Freedom 7 và mở rộng kính tiềm vọng để nhìn về phía Florida.

Sau khi vượt qua đỉnh quỹ đạo, đã đến lúc kích hoạt động cơ hãm - không cần thiết cho chuyến bay của ông nhưng là một thử nghiệm về cách thoát khỏi quỹ đạo. Quá trình tái nhập khí quyển ngắn ngủi nhưng rất dữ dội với tải trọng "G" cực đại lên tới hơn 11.

Dù bung ra bình thường và tàu vũ trụ của ông chạm xuống đại dương với một cú va chạm mạnh mà ông so sánh với việc hạ cánh trên tàu sân bay. Một máy bay trực thăng của thủy quân lục chiến đã đón ông và đưa ông đến tàu USS Lake Champlain...".

Alan Shepard và Freedom 7 đã có 15 phút 28 giây bay đến độ cao viễn cực khoảng 187km so với bề mặt Trái đất. Tổng thống John F. Kennedy đã trao tặng Huân chương Cống hiến xuất sắc của NASA cho Alan Shepard trong một buổi lễ tại Vườn Hồng vào ngày 8-5-1961. Điều thú vị là Shepard bị cấm bay trong sáu năm vì một vấn đề về tai nhưng sau đó ông trở lại ngoạn mục và thành phi hành gia Mercury duy nhất đặt chân lên Mặt trăng và chỉ huy cuộc đổ bộ của Apollo 14.

**********

>> Kỳ tới: Khởi đầu hành trình đến Mặt trăng

Đọc tiếp Về trang Chủ đề