Cần khung chính sách hoàn chỉnh về hạ tầng tri thức số quốc gia

Admin
Chúng ta đang đầu tư rất nhiều để tạo ra tri thức, nhưng lại đầu tư chưa tương xứng để tri thức được lưu thông.


Muốn phát triển khoa học, trước hết phải khai thông dòng chảy tri thức - Ảnh 1.

Các nhà khoa học trẻ làm việc tại Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) - Ảnh: TRẦN HUỲNH

Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Tinh thần ấy mở ra kỳ vọng về một hệ sinh thái nghiên cứu hiện đại, nơi tri thức được tạo ra, lan tỏa và nhanh chóng chuyển hóa thành năng suất, sản phẩm và giá trị mới.

Nhưng để khoa học thực sự trở thành động lực phát triển, có lẽ chúng ta vẫn còn thiếu một "mảnh ghép" quan trọng: một hạ tầng tri thức số thống nhất ở quy mô quốc gia.

Mỗi năm, Việt Nam có hàng chục nghìn luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu, giáo trình, sách chuyên khảo và bài báo khoa học được công bố. Phần lớn trong số đó được tạo ra từ ngân sách nhà nước hoặc trong các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu công lập.

Tuy nhiên sau khi hoàn thành, nhiều công trình lại nằm rải rác trong thư viện của từng trường, từng viện, từng cơ quan; mỗi nơi quản lý theo một chuẩn khác nhau, phạm vi khai thác khác nhau và gần như không liên thông.

Nghịch lý là chúng ta đang đầu tư rất nhiều để tạo ra tri thức, nhưng lại đầu tư chưa tương xứng để tri thức được lưu thông.

Một nghiên cứu sinh muốn tìm luận án liên quan phải dò tìm ở nhiều thư viện khác nhau. Một doanh nghiệp muốn ứng dụng kết quả nghiên cứu cũng không biết bắt đầu từ đâu. Không ít đề tài sau khi nghiệm thu gần như chỉ còn tồn tại trong kho lưu trữ. Nếu tri thức không được tiếp cận và tái sử dụng thì hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu cũng bị giảm đi đáng kể.

Thực tế, Việt Nam không thiếu các cơ sở dữ liệu học thuật. Chúng ta đã có thư viện quốc gia, cơ sở dữ liệu luận văn - luận án của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng nhiều thư viện số của các trường đại học. Tuy nhiên các hệ thống này chủ yếu phục vụ chức năng của từng đơn vị, thiếu cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác trên quy mô lớn.

Khoảng trống hiện nay không phải là thiếu máy chủ hay công nghệ. Khoảng trống nằm ở thể chế.

Đến nay vẫn chưa có một khung chính sách hoàn chỉnh về hạ tầng tri thức số quốc gia; chưa có chuẩn dữ liệu học thuật thống nhất; chưa có cơ chế liên thông giữa các thư viện và viện nghiên cứu; cũng chưa có quy định rõ ràng về việc khai thác, chia sẻ và phân chia lợi ích đối với tài sản trí tuệ trong môi trường số. Chính khoảng trống này khiến nhiều sáng kiến xã hội muốn xây dựng các nền tảng tri thức chung gặp rất nhiều rào cản, đặc biệt là bài toán bản quyền.

Theo tôi, đã đến lúc cần nghiên cứu ban hành một chính sách quốc gia về hạ tầng tri thức số.

Điều đó không đồng nghĩa Nhà nước phải tự xây dựng một "siêu thư viện" hay trực tiếp kinh doanh dữ liệu học thuật. Vai trò của Nhà nước nên là kiến tạo một hệ sinh thái mà ở đó các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, nhà xuất bản và chính các tác giả có thể cùng tham gia.

Trước hết, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về dữ liệu học thuật để các cơ sở dữ liệu có thể kết nối với nhau. Mỗi đơn vị vẫn quản lý tài sản của mình nhưng sử dụng cùng một "ngôn ngữ dữ liệu", giúp người dùng chỉ cần tìm kiếm tại một điểm truy cập duy nhất.

Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý về quyền tác giả trên môi trường số. Nên khuyến khích các tác giả lựa chọn nhiều mức độ cấp phép khác nhau, từ công bố mở, đọc miễn phí đến khai thác có thu phí. Đồng thời phải có quy trình thống nhất về xác minh quyền sở hữu, tiếp nhận khiếu nại, gỡ bỏ tài liệu vi phạm và xử lý doanh thu phát sinh khi có tranh chấp.

Thứ ba, cần có lộ trình mở rộng khả năng tiếp cận đối với các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Không phải mọi tài liệu đều phải công khai ngay, bởi còn liên quan đến bí mật nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ hoặc khả năng thương mại hóa.

Tuy nhiên, đối với những công trình phục vụ lợi ích công cộng, nên có cơ chế công bố sau một thời gian bảo lưu hợp lý để xã hội tiếp tục khai thác, học tập và phát triển.

Thứ tư, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia xây dựng các nền tảng tri thức. Nhà nước không nhất thiết làm thay doanh nghiệp, nhưng nên tạo hành lang pháp lý minh bạch để các doanh nghiệp có thể đầu tư, cung cấp dịch vụ và chia sẻ lợi ích công bằng với tác giả, nhà xuất bản và các tổ chức nghiên cứu.

Nếu Nghị quyết 57 coi dữ liệu là nguồn tài nguyên mới của nền kinh tế số, thì tri thức khoa học chính là phần tinh hoa nhất của nguồn tài nguyên ấy. Một quốc gia không thể trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo nếu kết quả nghiên cứu vẫn nằm phân tán trong hàng trăm "ốc đảo dữ liệu".

Cũng không thể nói đến kinh tế tri thức nếu doanh nghiệp khó tiếp cận thành quả nghiên cứu, còn nhà khoa học không có cơ chế hợp lý để công bố và khai thác tài sản trí tuệ của mình.

Trong nhiều năm, chúng ta đã đầu tư để tạo ra tri thức. Bước đi tiếp theo cần được quan tâm là đầu tư cho khả năng lưu thông của tri thức. Đó không chỉ là câu chuyện của thư viện hay công nghệ thông tin, mà là một chính sách nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mà Nghị quyết 57 đã đặt ra.

Khi dòng chảy tri thức được khai thông, giá trị của mỗi công trình nghiên cứu sẽ không dừng lại ở một bản nghiệm thu, mà có thể tiếp tục tạo ra những giá trị mới cho giáo dục, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề