
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng - Ảnh: Quốc hội
Việt Nam nghiên cứu dùng các mỏ dầu khí cạn kiệt để lưu trữ CO2, mở hướng phát triển thị trường thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon.
Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết như trên tại phiên thảo luận ở hội trường về dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) chiều 8-8, trước sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội về việc xây dựng chính sách thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS).
Nghiên cứu, thử nghiệm lưu trữ CO2 tại một số mỏ
Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, qua đánh giá sơ bộ, thị trường thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS), cũng như khai thác các công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, có thể phát triển tốt nếu hình thành một ngành dịch vụ phục vụ cả khu vực Đông Nam Á.
Nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam chỉ ra quy mô thị trường có thể đạt khoảng 40 tỉ USD. Hiện Việt Nam đang phối hợp với Nhật Bản nghiên cứu, thử nghiệm tại một số mỏ có thể sử dụng để lưu trữ CO2 ở khu vực Bắc Bộ.
Ông Hùng nhấn mạnh việc phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác.
Các dự án dầu khí cũng là những công trình sử dụng nhiều năng lượng. Vì vậy, theo ông Hùng, có thể tích hợp năng lượng tái tạo để phục vụ trực tiếp các công trình dầu khí, đồng thời tận dụng đường ống, giàn khoan và hạ tầng hiện có.
Các giải pháp này có thể tiến tới sử dụng năng lượng tái tạo để điện phân hydrogen, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải.
"Điều này giúp thúc đẩy lộ trình chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải. Đây là định hướng rất mới và tiến bộ trong luật" - ông Hùng nhấn mạnh.
Trước đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường - cho rằng CCS dù tạo thành một ngành công nghiệp mới nhưng không thể trở thành nhiệm vụ dài hạn của Nhà nước trong xử lý.
Theo ông Sơn, CCS mở ra khả năng tái sử dụng các mỏ cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu, nhưng đồng thời phát sinh nghĩa vụ giám sát kéo dài hàng chục năm, kể cả sau khi hợp đồng dầu khí chấm dứt.
"Tôi đề nghị luật quy định nguyên tắc bắt buộc phải ký quỹ bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm. Đây là nghĩa vụ tài sản chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Nếu luật không đặt nguyên tắc, sẽ có nguy cơ nghĩa vụ tài chính cuối cùng chuyển sang Nhà nước" - ông Sơn nêu vấn đề.
Đề xuất quy định quyền chuyển đổi mỏ để lưu trữ carbon

Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) - Ảnh: Quốc hội
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) ủng hộ việc đưa lĩnh vực CCS vào dự thảo luật, cho rằng đây là lĩnh vực mới, đóng vai trò then chốt trong mục tiêu giảm phát thải và chuyển dịch năng lượng.
Bà Linh đề nghị quy định cụ thể quyền nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi các mỏ đã hoặc sắp kết thúc khai thác thành cơ sở lưu trữ carbon.
Theo đại biểu, cần tạo điều kiện cho các nhà thầu dầu khí hiện hữu hoặc Petrovietnam nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi mỏ sang cơ sở lưu trữ carbon trong một thời hạn nhất định. Việc này giúp tận dụng lợi thế về dữ liệu địa chất và hạ tầng sẵn có, đồng thời cần có quy định riêng đối với nhà thầu trong lĩnh vực CCS để bảo đảm an toàn môi trường và giải pháp kỹ thuật.
Đại biểu Trịnh Xuân An - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại - cho rằng dự thảo luật đã từng bước mở ra không gian phát triển mới thông qua các lĩnh vực CCS và hạ tầng ngoài khơi.
Theo ông An, hướng đi này phù hợp với xu hướng công nghệ cao và thể hiện tư duy chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo phát triển.
Tuy vậy, đại biểu lưu ý cần quan tâm yếu tố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo khi thực hiện các hoạt động dầu khí mới.
Đặc biệt, khi bổ sung quy định tổng thể về ngành dịch vụ dầu khí - gồm các hoạt động dịch vụ thương mại, kỹ thuật, công nghệ phục vụ điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí và hoạt động CCS - cần phân định rõ các chính sách nhằm bảo đảm hiệu quả lâu dài.
Có chính sách ưu đãi khai thác mở nước sâu, xa bờ
Về chính sách ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết các dự án dầu khí hiện nay ngày càng nằm ở vùng nước sâu, xa bờ, với điều kiện triển khai khó khăn hơn, địa chất phức tạp hơn, vốn đầu tư lớn hơn và thời gian thu hồi vốn dài hơn.
Đặc biệt, nhiều mỏ nhỏ, cận biên nếu áp dụng các cơ chế thông thường sẽ không đủ điều kiện để nhà đầu tư triển khai. Khi đó, cả nhà đầu tư và Nhà nước đều không có thêm nguồn thu.
Vì vậy, dự thảo luật bổ sung các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển các mỏ cận biên ở khu vực nước sâu, xa bờ và gia tăng hệ số thu hồi dầu.
"Để gia tăng hệ số thu hồi dầu, cùng các giải pháp về khoa học kỹ thuật, nhà thầu dầu khí phải đầu tư một lượng chi phí để triển khai hoạt động nghiên cứu. Do đó, luật thiết kế chính sách trong phát triển khoa học công nghệ, thu hút các nhà đầu tư, gia tăng sản lượng khai thác, đóng góp cho ngân sách và an ninh năng lượng của đất nước" - ông Hùng nhấn mạnh.