An ninh nước: Tầm nhìn chiến lược cho TP.HCM mới

Admin
Đã đến lúc thành phố cần nhìn nước không phải như một vấn đề cần giải quyết, mà như một tài sản chiến lược cần đầu tư.
 - Ảnh 1.

Sông Sài Gòn chảy qua trung tâm TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Khái niệm an ninh nước ngày càng được nhắc đến như một nền tảng của phát triển bền vững. Đó là khả năng bảo đảm cho người dân luôn có đủ nước sạch, an toàn cho sinh hoạt, sản xuất và cho hệ sinh thái, ngay cả khi đối mặt với hạn hán, ngập lụt, ô nhiễm hay biến đổi khí hậu.

Đó không chỉ là chuyện "có đủ nước", mà là có nguồn nước đạt chất lượng phù hợp, ở đúng nơi và đúng thời điểm để đáp ứng nhu cầu của con người, nền kinh tế và hệ sinh thái. Đây cũng chính là mục tiêu mà quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra: đưa chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia của Việt Nam vào nhóm các quốc gia bảo đảm an ninh nước hiệu quả trên thế giới.

Bảo đảm nguồn cấp nước

Sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, từ ngày 1-7-2025, TP.HCM mới có quy mô hơn 14 triệu dân, diện tích trên 6.700km², trở thành một trong những vùng đô thị - công nghiệp - cảng biển lớn nhất Đông Nam Á. Quy mô đó đồng nghĩa với nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp, logistics và phát triển đô thị sẽ tiếp tục tăng trong nhiều thập niên tới.

Điều đáng mừng là thành phố hiện vẫn được bảo đảm nguồn cấp nước nhờ hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn cùng các hồ chứa lớn ở thượng nguồn như Dầu Tiếng, Trị An. Nhiều năm qua, thành phố cũng đã đầu tư mạnh cho hệ thống cấp nước, mở rộng mạng lưới phục vụ người dân và kéo giảm đáng kể tỉ lệ thất thoát nước.

Nhưng những năm hạn hán gần đây cho thấy thành phố ngày càng phụ thuộc vào việc điều tiết nước từ hồ chứa để hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ các cửa lấy nước. 

Khi dân số tăng, công nghiệp phát triển mạnh hơn, cùng với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, áp lực lên nguồn nước chắc chắn sẽ lớn hơn. Điều cần lo không phải là thành phố đang thiếu nước, mà là phải chuẩn bị từ sớm để không rơi vào thế bị động.

Nghịch lý ấy thể hiện rõ qua một phép tính đơn giản: chỉ một trận mưa 100mm trên diện tích hơn 6.700km² của TP.HCM đã tạo ra khoảng 670 triệu m³ nước. Đây là lượng nước khổng lồ, nhưng phần lớn nhanh chóng theo hệ thống thoát nước chảy ra sông rồi ra biển. 

Dĩ nhiên, không phải toàn bộ lượng nước này đều có thể lưu giữ hoặc khai thác. Nhưng nếu thành phố có thể giữ lại và sử dụng hiệu quả chỉ một phần nhỏ trong số đó thì cũng đã tạo thêm một nguồn nước đáng kể, đồng thời góp phần giảm ngập và bổ sung nước ngầm.

Việc nạo vét kênh rạch không chỉ giúp tăng thêm khả năng chứa nước mà còn cải thiện dòng chảy, giảm bồi lắng, nâng cao khả năng tự làm sạch của dòng sông và phục hồi hệ sinh thái thủy sinh.

Với khoảng 55km các tuyến kênh chính trong khu vực nội đô cũ, chỉ cần tăng thêm độ sâu trung bình từ 0,5 - 1m cũng có thể tăng thêm hàng trăm nghìn đến trên một triệu mét khối dung tích chứa nước. Mặc dù con số này chỉ chiếm một phần nhỏ so với lượng nước của một trận mưa lớn, nhưng lợi ích tổng hợp về tiêu thoát nước, cải thiện môi trường và cảnh quan đô thị lại rất đáng kể.

Vấn đề của TP.HCM, vì vậy, không đơn thuần là thiếu hay thừa nước mà là thiếu khả năng giữ nước và sử dụng nước hiệu quả trong suốt vòng đời của nó. Đây cũng là lý do nhiều thành phố lớn trên thế giới đang chuyển từ tư duy "thoát nước càng nhanh càng tốt" sang tư duy tuần hoàn nước: giữ nước, làm sạch nước và sử dụng nhiều lần.

Một hướng đi nhiều triển vọng để hiện thực hóa tư duy đó là xem thiên nhiên cũng là một loại hạ tầng. Những hàng cây ven sông, công viên, hồ điều hòa, kênh rạch, vùng đất ngập nước không chỉ là khoảng xanh cần bảo tồn, mà còn là "công trình" tự nhiên có khả năng trữ nước, làm sạch nước, giảm ngập, điều hòa nhiệt độ và tạo môi trường sống cho nhiều loài sinh vật. Khác với hạ tầng bê tông, hạ tầng xanh nếu được quản lý tốt sẽ không xuống cấp theo thời gian mà ngày càng gia tăng giá trị sinh thái, kinh tế, xã hội.

Ở quy mô nội đô, hạ tầng xanh cũng có thể hiện diện ngay trong lòng đường phố. Hồ điều hòa phân tán trong khu dân cư, công viên có khả năng trữ nước tạm thời khi mưa lớn, mái nhà xanh, vườn mưa hay dải cây ven đường đều là những "bể chứa" nhỏ giúp làm chậm dòng chảy trước khi nước đổ vào hệ thống cống.

Vỉa hè và mặt đường thấm nước bằng vật liệu có độ rỗng cho phép nước mưa ngấm trực tiếp xuống nền đất, bổ sung nước ngầm thay vì dồn hết vào cống, cũng là một giải pháp đáng chú ý.

Từ năm 2023, TP.HCM đã thí điểm vật liệu này trên một số tuyến đường ở Thủ Đức như Phạm Văn Đồng, Quốc Hương và dự kiến mở rộng ra khu vực trung tâm như Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Văn Trỗi.

Đây chính là những viên gạch đầu tiên của mô hình "Sponge City" (đô thị bọt biển) mà nhiều thành phố trên thế giới đang theo đuổi. Đó là mô hình đô thị được thiết kế để thấm, giữ và sử dụng nước mưa ngay tại chỗ thay vì chỉ tìm cách đưa nước ra khỏi thành phố nhanh nhất có thể. Đây là giải pháp TP.HCM nên cân nhắc đưa vào quy hoạch thoát nước đô thị trong giai đoạn tới, thay vì chỉ dừng lại ở một vài tuyến đường thí điểm.

Cần được cụ thể hóa bằng hành động

Ít đô thị nào trong khu vực còn giữ được những điều kiện tự nhiên như TP.HCM mới: hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn, hàng trăm km kênh rạch, vùng cửa sông Nhà Bè - Soài Rạp, sông Thị Vải và đặc biệt là Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ rộng hơn 75.000ha. 

Quy hoạch TPHCM thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Thủ tướng phê duyệt đã xác định phát triển không gian dọc sông Sài Gòn gắn với bảo đảm an ninh nguồn nước, một định hướng đúng, nhưng cần được cụ thể hóa bằng hành động.

An ninh nước: Tầm nhìn chiến lược cho TP.HCM mới - Ảnh 1.

Người dân dùng nước sạch ở xã Cần Giờ - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Thứ nhất, TP.HCM cần xây dựng một cơ sở dữ liệu tích hợp và bộ chỉ số an ninh nước cấp đô thị trên nền tảng chuyển đổi số. Khi nguồn nước được theo dõi và dự báo liên tục, thành phố sẽ chủ động hơn nhiều trước các rủi ro thay vì chỉ phản ứng khi sự cố xảy ra.

Thứ hai, hệ thống sông, kênh rạch, đất ngập nước, rừng ngập mặn cùng các giải pháp hạ tầng xanh như hồ điều hòa phân tán, vỉa hè thấm nước, mái nhà xanh hay công viên trữ nước cần được xem là một phần của hạ tầng đô thị thiết yếu và được đầu tư tương xứng, thay vì chỉ là những dự án môi trường riêng lẻ.

Thứ ba, an ninh nước của TP.HCM không thể tách rời các tỉnh trong cùng lưu vực. Thành phố cần chủ động xây dựng cơ chế phối hợp với Đồng Nai và Tây Ninh trong quản lý lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn và vận hành các hồ Dầu Tiếng, Trị An nhằm bảo đảm nguồn nước trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét.

Có lẽ điều quan trọng nhất không phải là chúng ta sẽ xây thêm bao nhiêu cống ngăn triều, bao nhiêu hồ điều hòa hay bao nhiêu nhà máy nước. Điều quan trọng hơn là thay đổi cách nhìn về nước.

Khi coi nước là một tài sản chiến lược của thành phố, khi coi những dòng sông, kênh rạch, đất ngập nước và rừng ngập mặn là một phần của hạ tầng thiết yếu chứ không chỉ là những khoảng không gian cần bảo tồn, chúng ta sẽ có những quyết định khác về quy hoạch, đầu tư và phát triển.

An ninh nước không chỉ là một mục tiêu quản lý tài nguyên. Đó là một chiến lược phát triển. Những thành phố biết đầu tư cho nước hôm nay sẽ là những thành phố có năng lực cạnh tranh, chất lượng sống và khả năng chống chịu cao hơn trong tương lai.

Điều đáng quý là TP.HCM vẫn còn nhiều lợi thế mà không phải đô thị nào cũng có: một hệ thống sông lớn, vùng cửa sông rộng, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển hạ tầng xanh. Chính vì vậy, đây là thời điểm tốt nhất để đầu tư cho tương lai, khi chúng ta vẫn còn đủ thời gian để chủ động thay vì buộc phải ứng phó.

Đầu tư cho an ninh nước hôm nay không chỉ để bảo đảm nước sạch cho ngày mai. Đó là đầu tư cho một thành phố an toàn hơn, đáng sống hơn và thịnh vượng hơn trong nhiều thập niên tới.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề