Mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành
Nghị định 335 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội sẽ có hiệu lực từ ngày 5/10.

Ảnh được hỗ trợ bởi AI.
Mức chuẩn này là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các khoản trợ giúp xã hội khác.
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại nghị định này.
Các trường hợp người cao tuổi thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội từ 5/10
Báo Tin tức dẫn Điểm a, Khoản 5, Điều 5 của Nghị định quy định một số nhóm người cao tuổi thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng.
Trong đó có người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; hoặc có người có nghĩa vụ, quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Nhóm người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng cũng thuộc diện được hỗ trợ. Cụ thể:
Trường hợp thứ nhất: Với người từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người có nghĩa vụ phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hệ số trợ cấp được xác định là 1,5.
Căn cứ mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, mức hưởng của nhóm này là: 540.000 đồng x 1,5 = 810.000 đồng/tháng.
Như vậy, không phải mọi người từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi đều được hưởng 810.000 đồng/tháng. Người hưởng phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về độ tuổi, hoàn cảnh hộ nghèo và điều kiện liên quan đến người có nghĩa vụ, quyền phụng dưỡng theo quy định.
Trường hợp thứ hai:

Ảnh được hỗ trợ bởi AI.
Trường hợp thứ ba: Mức hỗ trợ cao hơn áp dụng đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng. Nhóm này được hưởng hệ số 3,0, tương ứng 1,62 triệu đồng/tháng.
Hồ sơ, thủ tục hưởng trợ cấp được đơn giản hóa
Theo thông tin được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử xã Cẩm Bình, tỉnh Hà Tĩnh: Người có nhu cầu đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện Tờ khai theo mẫu ban hành kèm Nghị định và gửi đến Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thực hiện việc xem xét, thẩm định, quyết định trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng; trường hợp không đủ điều kiện hưởng phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Nghị định cũng quy định việc xem xét tạm dừng, thôi hưởng hoặc điều chỉnh mức hưởng khi hoàn cảnh, điều kiện của đối tượng thay đổi. Thời gian thôi hưởng được tính từ tháng ngay sau tháng đối tượng chết, không đủ điều kiện hưởng; thời gian điều chỉnh mức hưởng kể từ tháng đối tượng thay đổi điều kiện hưởng.
Người dân, gia đình có trẻ em hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc thành viên thuộc các nhóm yếu thế nêu trên cần chủ động đối chiếu điều kiện, kê khai đầy đủ, chính xác thông tin và liên hệ cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn lập hồ sơ, xem xét giải quyết chế độ.
Việc nắm rõ các chính sách trợ giúp xã hội không chỉ giúp người dân không bỏ sót quyền lợi chính đáng, mà còn góp phần phát hiện kịp thời những trường hợp khó khăn trong cộng đồng để được hỗ trợ, chăm sóc và bảo đảm an sinh xã hội theo đúng quy định của pháp luật.
Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/tu-5102026-nguoi-tu-75-tuoi-tro-len-duoc-huong-108-trieu-dongthang-trong-truong-hop-nao-a86366.html