
Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai thăm khám cho sản phụ - Ảnh: BVCC
Biết nhiễm viêm gan B nhưng vẫn chủ quan
Ở tuần thai thứ 34, một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên phải nhập Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng mệt mỏi, vàng da, vàng mắt tăng dần, ăn uống kém.
Người bệnh đã biết mình nhiễm viêm gan B nhiều năm nhưng không điều trị. Chồng chị cũng mắc viêm gan B. Trong thời gian dài, cả hai gần như không có biểu hiện bất thường nên không đi khám và theo dõi thường xuyên.
Khoảng ba ngày trước khi nhập viện, chị bắt đầu mệt nhiều, ăn kém, da vàng, nước tiểu vàng sẫm. Xét nghiệm tại cơ sở y tế cho thấy men gan tăng cao, người bệnh được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai.
Tại đây, các bác sĩ xác định người bệnh đang có đợt viêm gan B tiến triển ở giai đoạn cuối thai kỳ. Tỉ lệ prothrombin chỉ còn 57%, cho thấy chức năng đông máu đã giảm. Người bệnh phải được theo dõi sát nguy cơ rối loạn đông máu, chảy máu, suy gan và các biến chứng nặng khác, đồng thời bảo đảm an toàn cho thai nhi.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thu Trang - khoa viêm gan vi rút, Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, phụ nữ mang thai nhiễm HBV cần được quản lý chặt chẽ để vừa bảo vệ sức khỏe người mẹ, vừa giảm nguy cơ lây truyền vi rút cho trẻ.
Nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con tăng rõ rệt khi người mẹ có tải lượng vi rút cao. Vì vậy, thai phụ cần được đánh giá để bác sĩ xác định hướng điều trị cho mẹ và biện pháp dự phòng cho trẻ.
Trường hợp người phụ nữ 32 tuổi trên cũng cho thấy người mang HBV không có triệu chứng không đồng nghĩa bệnh đã ổn định.
Hoạt động của vi rút và tình trạng tổn thương gan có thể thay đổi theo thời gian, đặc biệt trong những giai đoạn cơ thể có nhiều biến đổi như thai kỳ.
Các bác sĩ lưu ý nhiều người biết mình nhiễm viêm gan B nhưng không duy trì việc khám, xét nghiệm định kỳ vì cảm thấy cơ thể vẫn khỏe.
Việc bỏ theo dõi có thể khiến những thay đổi của bệnh không được phát hiện kịp thời, đồng thời bỏ lỡ thời điểm cần điều trị hoặc thực hiện các biện pháp dự phòng lây truyền cho con.
Nhiễm HBV càng sớm, nguy cơ thành mạn tính càng cao
Điều đáng lo ngại của lây truyền HBV từ mẹ sang con là trẻ có thể hoàn toàn khỏe mạnh, không có triệu chứng rõ ràng trong thời gian đầu nhưng vi rút vẫn tồn tại trong cơ thể.
Theo WHO và CDC, nguy cơ chuyển từ nhiễm HBV cấp tính sang nhiễm mạn tính phụ thuộc rất lớn vào tuổi nhiễm vi rút. Người càng nhỏ tuổi khi nhiễm HBV thì nguy cơ trở thành người mang vi rút mạn tính càng cao.
Ở người trưởng thành, nguy cơ chuyển thành nhiễm HBV mạn tính thường dưới 5%. Ngược lại, với trẻ sơ sinh nhiễm HBV, nguy cơ này có thể lên tới 85-90%.
Như vậy, một lần lây truyền HBV trong giai đoạn sơ sinh có thể khiến trẻ mang vi rút trong nhiều thập kỷ. Nếu không được phát hiện và quản lý phù hợp, nhiễm HBV mạn tính có thể dẫn đến viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan.
TS Đỗ Văn Thành, Trưởng khoa viêm gan vi rút, Phó viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, cho rằng lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là vấn đề của một thai phụ hay một gia đình.
Nếu trẻ nhiễm HBV và trở thành người mang vi rút mạn tính, về sau trẻ có thể tiếp tục truyền vi rút cho bạn đời hoặc thế hệ tiếp theo. Do đó, kiểm soát lây truyền từ mẹ sang con là một trong những mắt xích quan trọng để hạn chế sự lưu hành của HBV trong cộng đồng.
Các bác sĩ khuyến cáo viêm gan B có thể được chủ động phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con nếu thai phụ được phát hiện sớm và thực hiện đầy đủ các biện pháp dự phòng.
Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con cần được thực hiện theo một chuỗi biện pháp, gồm sàng lọc HBV ở thai phụ, đánh giá tải lượng vi rút và tình trạng bệnh của người mẹ, điều trị kháng vi rút khi có chỉ định, đồng thời tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ ngay sau sinh.
Với trẻ có mẹ nhiễm HBV, việc phối hợp vắc xin viêm gan B và globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG) theo chỉ định là một biện pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ trẻ bị nhiễm vi rút.
Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/me-nhiem-viem-gan-b-90-tre-so-sinh-co-the-thanh-benh-nhan-man-tinh-a85803.html