
Cụ Huỳnh Thúc Kháng với tờ Tiếng Dân.
Tại hội thảo khoa học "Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì Nhân dân" được tổ chức ngày 30-9 tại Đà Nẵng nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, đã phát biểu đúc kết: "Cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ suy nghĩ và hành động với quan điểm xuyên suốt, nhất quán: "Tất cả vì Dân. Học vì Dân. Viết vì Dân. Chịu tù đày vì Dân. Gánh vác việc nước cũng vì Dân".
Trong những chữ "vì Dân" gắn với cuộc đời của cụ Huỳnh, tờ báo Tiếng Dân do cụ sáng lập tròn 100 năm trước là một minh chứng vô cùng sinh động!
Những trang báo tròn một thế kỷ
Hơn 10 năm trước, khi đi tìm tư liệu về tờ báo "Tiếng Dân" mà cụ Huỳnh Thúc Kháng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tôi đã may mắn chạm vào những tờ báo có tuổi đời non thế kỷ (từ năm 1927 - 1943).
Người giữ những số báo Tiếng Dân ấy là nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan ở Huế (ông đã mất năm 2016). Cảm giác được chạm vào những tờ báo từ đầu thế kỷ 20, góc bản in có chữ ký "H.T.Khang" của cụ Huỳnh khiến như mình được trở về sống giữa một thời đoạn mà đất nước đang trầm luân bởi thân phận nô lệ trong tay thực dân Pháp.

Báo với 4 trang khổ A2 (420x 595mm - lớn gấp đôi khổ tờ báo Tuổi Trẻ trước đây), có cách đánh số trang không như bây giờ. Trang 1 (như vị trí trang 4 hiện nay) với manchette TIẾNG DÂN in đứng cứng cáp và khẳng khái chạy tràn gần hết 6 cột báo, bên dưới có thêm phụ ngữ bằng chữ Pháp "La Voix du Peuple và chữ Hán "Dân Thanh" (tiếng nói của dân). Góc trái ghi rõ Chủ nhiệm kiêm chủ bút: Huỳnh Thúc Kháng; Quản lý: Trần Đình Phiên. Góc phải là địa chỉ trụ sở: Báo quán - 123 đường Đông Ba - Huế. Trang 2 của báo tương đương với vị trí trang 1 bây giờ, còn trang 3 và 4 lại nằm bên trong - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Tờ "Tiếng Dân" được cụ Huỳnh bắt đầu xin giấy phép từ năm 1926, nhưng đến năm 1927 mới được cho phép ra số đầu tiên.
Học lịch sử báo chí, chúng tôi vẫn nghe kể về tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh. Mỗi số báo Tiếng Dân cụ Huỳnh phải nộp cho Sở Liêm Phóng hai bản "vỗ" bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp để kiểm duyệt.
Nếu bài nào bị Sở Liêm Phóng đục bỏ thì phải thay thế bằng bài khác "mềm mại" hơn, nhưng tòa soạn của cụ Huỳnh không theo lối ấy. Với những bài báo bị đục bỏ, cụ cứ để trống như thế, và người đọc sẽ đọc được "rất nhiều thông tin" từ ô trống trên trang báo ấy.

Những tờ báo mà chúng tôi tiếp cận được không phải là các số báo bán bình thường, vì là những tờ báo nộp cho Sở Liêm Phóng trước khi phát hành nên góc bản in có chữ ký "H.T.Khang" của cụ Huỳnh - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Tìm cho ra những "trang trắng" bị Sở Liêm Phóng đục bỏ trên báo Tiếng Dân thuở ấy, sau gần một thế kỷ trôi qua quả là chuyện không dễ dàng, may sao, nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan không chỉ sở hữu những tờ báo Tiếng Dân bản gốc có chữ ký bằng mực tím của cụ Huỳnh và con dấu của kho lưu trữ tòa Khâm (dépôt légal).
Trong sưu tập của ông Phan còn có một tập báo Tiếng Dân với những dòng chữ bị đục bỏ bởi kiểm duyệt liên quan đến một sự kiện lớn của Huế: Ngày cụ Phan Bội Châu qua đời!
Đối đầu với kiểm duyệt nhưng vẫn lưu được nội dung
Ngày 29-12-1940, cụ Phan qua đời tại Huế, báo Tiếng Dân mỗi ngày nhận hàng trăm điện văn, câu đối, lời điếu của người dân cả nước gửi về. Những ngày sau khi cụ Phan mất, trên mỗi số báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh đều dành để đăng những tình cảm đó của đồng bào với người chí sĩ cách mạng.
Và tất nhiên Sở Liêm Phóng không thể nào chấp nhận lời điếu, những điện văn ca ngợi cụ Phan được công khai khi cụ Phan là một "tù nhân hạng nặng", một kẻ thù của chế độ cai trị. Và nhiều câu văn, bài thơ, câu đối bị Sở Liêm Phóng Trung kỳ đục bỏ không thương tiếc.
Để nguyên những trang báo với ô trống đục bỏ như thế chính là bày tỏ một thái độ với chế độ cầm quyền cai trị, nhưng chỉ như thế thì hậu thế làm sao biết được Sở Liêm Phóng đã đục bỏ những gì?
May mắn thay, sau khi phát hành những số báo bị đục bỏ ấy, các thư ký tòa soạn của Tiếng Dân (và cũng có thể là chính cụ Huỳnh) đã lấy các số báo lưu lại tòa soạn và lấy bút viết lên những ô trống bị đục bỏ ấy những câu chữ đã bị cắt bỏ khi kiểm duyệt.
Những số báo lịch sử ấy được ấn hành trong gian đoạn đám tang cụ Phan Bội Châu với khoảng trống bị đục bỏ được những thư ký nắn nót chép lại từ những bản thảo mà người mến mộ cụ Phan gửi về, ông Hồ Tấn Phan cũng may mắn sưu tập được và hôm nay chúng tôi được tận mắt chứng kiến.
Ví như trong "Bài văn sanh vãn cụ Phan Sào Nam" do chính cụ Huỳnh soạn, những từ như "hy sinh", "hướng lộ", "vĩ nhân" đều bị xóa. Và tất nhiên, trang báo Tiếng Dân cũng cứ thế để trống.
Một trang báo khác, bài thơ của bạn đọc Lê Vũ Hồn (Vinh) gửi về điếu cụ cũng bị đục bỏ mất một khổ thơ: "Họ nếu nghe ông trời đã vá/ Con từ mất mẹ hận chưa nguôi/ Khôn đem huyết lệ tô sông núi/ Non nước vì ai những ngậm ngùi...".
Đặc biệt hơn nữa khi các tít báo trong các số báo Tiếng Dân luôn có từ "dân".

Các tít của tin tức luôn gắn với chữ dân: "Lại bắt dân chịu", "Quan đã thấu nỗi khổ dân chăng?", "Dân lấy làm ức cho lý trưởng bị lưu dịch"... Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Ví như trên số báo ra ngày 14-1-1937, ngoài những bài viết có tính chất khai sáng, bình luận các vấn đề lớn như "Nước Pháp với thuộc địa - bao giờ liên lạc với nhau", "Luật lao động", "Thanh niên với vấn đề cải tạo xã hội", hai cột tin tức chính là "Việc thế giới" và "Việc trong nước".
Những tin tức ở "Việc trong nước" hầu hết là những sự việc chỉ đọc tít tựa thôi đã thấy đầy "sức chiến đấu" và tinh thần "chống tiêu cực" như cách nói của báo chí bây giờ: "Lại bắt dân chịu", " Quan đã thấu nỗi khổ dân chăng?", "Dân lấy làm ức cho lý trưởng bị lưu dịch". Không chỉ đậm đặc những tin tức phản ánh tiếng nói của người dân, nhiều bài báo trên Tiếng Dân từ thuở ấy đến hôm nay vẫn còn tính thời sự của nó.

Các tít của tin tức luôn gắn với chữ dân: "Lại bắt dân chịu", "Quan đã thấu nỗi khổ dân chăng?", "Dân lấy làm ức cho lý trưởng bị lưu dịch"... - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Từ bảo vệ chủ quyền quốc gia đến đấu tranh với thói tật của người Việt
Tháng 7-1937, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, quân đội Thiên Hoàng xâm lược Trung Quốc, người Nhật với tham vọng bá chủ châu Á đã ngang nhiên muốn thôn tính quần đảo Hoàng Sa - bấy giờ đang do lính Pháp và lính thuộc địa An Nam chiếm đóng.
Từ giữa những năm 1938 trở đi, việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật Bản khá căng thẳng. Chính thời điểm này, báo Tiếng Dân ra liên tiếp 4 số báo về quần đảo Hoàng Sa. Số báo ra ngày 12-7-1938 (số 1280) đăng bài "Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Pháp"; "Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng" (Tiếng Dân, số 1281); "Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy (Tiếng Dân, số 1282) và "Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp lục" (Tiếng Dân, số 1284, 23-7-1938).

Những bài báo bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đã được cụ Huỳnh chấp bút trên tờ Tiếng Dân trong giai đoạn tranh chấp quần đảo Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật Bản khá căng thẳng - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Với cái sự "nhà nhà người người" ai cũng có thể làm thơ in thơ, thì từ đầu thế kỷ trước, cũng trên Tiếng Dân đã có bài viết "Cái tính ham làm thi (thơ) của người Nam ta" do chính cụ chấp bút và ký Huỳnh Thúc Kháng (những bài quan trọng cụ mới ký tên mình, còn các bài bình thường cụ Huỳnh chỉ ký các bút danh khác như Sử Bình Tử, Tha Sơn Thạnh, Khỉ Ưu Sinh...).
Cụ Huỳnh điểm rất đích đáng: "Các ông đi sứ Tàu về việc bang giao không rõ thế nào chứ ông nào cũng mang một tập thi về cả. Nào Hoa Thiên Ngâm Lục, Yên Thiền Thi Thảo, Vạn Lý Hành Ngâm, Mỗi Hồi Ngâm Thảo...", không sao kể xiết.

"Cái tính ham làm thi của người Nam ta" được cụ Huỳnh viết để chê thói tật của người Việt lúc bấy giờ - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC
Có thể nói cuộc đời của cụ Huỳnh chính là một di sản tinh thần về tấm gương của một kẻ sĩ - trí thức bao trùm lên bởi một chữ "Dân". Và có lẽ từ tinh thần của nhà báo Huỳnh Thúc Kháng mà ngôi trường dạy báo chí đầu tiên của Việt Nam cũng được mang tên cụ: Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng.

Bức ảnh chụp kỷ niệm 10 năm báo Tiếng Dân trước trụ sở của báo ở đường Đông Ba, nay là số nhà 193 Huỳnh Thúc Kháng, Huế - Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Đà Nẵng
Ngày 4-4-1949, giữa núi rừng ATK Việt Bắc, "Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng" đã ra đời từ sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh và Đoàn báo chí kháng chiến. Đây là cơ sở đào tạo báo chí đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là cơ sở đào tạo duy nhất trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do nhà báo Đỗ Đức Dục làm giám đốc, nhà báo Xuân Thủy làm phó giám đốc.
Ngày 28-3-2019, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định xếp hạng Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng là di tích quốc gia.
Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/hai-chu-vi-dan-cua-nha-bao-huynh-thuc-khang-tu-100-nam-truoc-a85621.html