
Ông Ngô Văn Tuấn - Bộ trưởng Bộ Tài chính - đánh cồng, đánh dấu cột mốc chứng khoán Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp theo phân loại của FTSE Russell - Ảnh: PHẠM TUẤN
Ngày 21-9-2026 đánh dấu một cột mốc đáng nhớ khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Chỉ vài ngày trước đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa lãi suất liên bang lên 3,75-4%.
Đặt hai sự kiện cạnh nhau, có thể thấy một nghịch lý đáng suy nghĩ: cánh cửa để Việt Nam tiếp cận vốn quốc tế đang rộng hơn, trong khi đồng vốn trên thế giới lại trở nên đắt hơn và chọn lọc hơn.
Từ thu hút vốn đến hấp thụ vốn
Việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các bộ chỉ số FTSE không diễn ra một lần, mà được thực hiện qua bốn giai đoạn từ tháng 9-2026 đến tháng 9-2027. Việt Nam từ nay xuất hiện ở một vị trí khác trên bản đồ phân bổ tài sản của nhiều định chế tài chính quốc tế.
Nhưng không nên nhìn nâng hạng như một chiếc van được mở để tiền tự động chảy vào. Tiền không chảy theo danh hiệu mà đi tìm cơ hội, và càng không có gì bảo đảm một đồng vốn đi vào nền kinh tế sẽ tự động tạo ra một đồng giá trị tương ứng.
Tại một hội nghị kết nối đầu tư giữa TP.HCM với các địa phương Đông Nam Bộ và ĐBSCL gần đây, tôi từng nêu quan điểm rằng 10 dự án được chuẩn bị thật tốt và có khả năng triển khai ngay có giá trị hơn 100 dự án mới dừng ở mức ý tưởng.
Khi một doanh nghiệp cân nhắc đầu tư hàng chục hay hàng trăm triệu USD, họ không cần một danh mục thật dài. Họ cần biết đất đã sẵn sàng chưa, hạ tầng khi nào kết nối, nguồn điện có ổn định không, thủ tục mất bao lâu, thị trường ở đâu và chuỗi cung ứng có đáp ứng được dự án hay không. Khoảng cách từ "quan tâm" đến "xuống tiền" thường nằm ở những câu hỏi rất thực tế đó.
Vì vậy, sau nhiều năm tập trung vào thu hút vốn, Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến một khái niệm khác: năng lực hấp thụ vốn.
Thu hút vốn đo lượng tiền đi vào. Năng lực hấp thụ vốn đo khả năng biến tiền thành năng suất, công nghệ, việc làm, doanh nghiệp mạnh hơn và giá trị gia tăng cao hơn. Hai thước đo này không phải lúc nào cũng đi cùng nhau.
Một nền kinh tế có thể nhận rất nhiều tín dụng, FDI hay vốn đầu tư gián tiếp, nhưng nếu dòng tiền chủ yếu đi vào tài sản, những ngành có giá trị gia tăng thấp hoặc các hoạt động mà doanh nghiệp trong nước ít tham gia, lượng vốn tăng lên chưa chắc đồng nghĩa năng lực nội tại của nền kinh tế tăng tương ứng.
Vì thế, câu hỏi sau nâng hạng không nên chỉ là "bao nhiêu vốn sẽ vào?", mà còn phải là "bao nhiêu giá trị sẽ ở lại?". Với doanh nghiệp, đó là một chuỗi giá trị; trong quản lý, nó có thể đi qua nhiều địa phương, quy hoạch và thủ tục.
Nâng hạng thị trường, nâng hạng doanh nghiệp
Có một thực tế cần nhìn thẳng: Việt Nam có thể được nâng hạng thị trường, nhưng doanh nghiệp Việt Nam không vì thế mà được nâng hạng sau một đêm. Đây vừa là sức ép, vừa là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam thay đổi.
Trong nhiều năm, doanh nghiệp trong nước vẫn dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng. Nhưng một doanh nghiệp muốn đầu tư dây chuyền công nghệ có vòng đời 15 năm, một dự án hạ tầng cần vài chục năm hoàn vốn hay một nhà sản xuất cần chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu đều cần những nguồn vốn dài hạn hơn.
Thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp phải từng bước đảm nhận tốt hơn chức năng đó. Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM cũng cần được nhìn theo cách tương tự. Nếu dòng vốn ấy giúp doanh nghiệp Việt xây nhà máy mới, đầu tư R&D, mua công nghệ, chuyển đổi xanh hay đưa thương hiệu Việt ra thị trường quốc tế, câu chuyện sẽ rất khác. Khi ấy, vốn tài chính mới thực sự trở thành vốn phát triển.
Để hấp thụ được những dòng vốn dài hạn như vậy, ngoài dự án tốt và doanh nghiệp tốt, còn cần khả năng dự đoán của môi trường kinh doanh.
Qua nhiều năm làm doanh nghiệp và tiếp xúc với các nhà đầu tư, tôi nhận thấy họ không nhất thiết chọn nơi có giá đất thấp nhất hay ưu đãi thuế lớn nhất. Một chi phí cao nhưng xác định được vẫn có thể đưa vào phương án kinh doanh. Điều khó tính toán hơn nhiều là sự bất định.
Chúng ta đang dành nguồn lực rất lớn để xây cao tốc, sân bay, cảng biển và hạ tầng số nhằm giảm chi phí cho nền kinh tế. Nhưng nếu một con đường mới giúp doanh nghiệp tiết kiệm vài giờ vận chuyển, trong khi ở nơi khác họ mất thêm vài tháng cho một thủ tục, một phần giá trị mà hạ tầng tạo ra đã bị lấy lại bởi sự chậm trễ của hệ thống.
Theo nghĩa đó, thể chế minh bạch, chính sách có khả năng dự đoán, thủ tục có thời hạn và bộ máy có trách nhiệm cũng là một loại hạ tầng kinh tế.
Vốn vào, giá trị ở lại

Việt Nam đã sẵn sàng biến dòng vốn mới thành năng lực tăng trưởng mới hay chưa? - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Điều tương tự cũng đúng với thị trường vốn. Một tỉ USD mua đi bán lại cổ phiếu trên thị trường thứ cấp có ý nghĩa khác với một tỉ USD được huy động để doanh nghiệp tăng vốn, đầu tư công nghệ và mở rộng ra thị trường thế giới.
Bởi vậy, cuộc cạnh tranh sắp tới của Việt Nam không đơn thuần là cạnh tranh để có nhiều vốn hơn. Đó là cạnh tranh để có những đồng vốn tốt hơn, và quan trọng hơn, để mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.
Đinh Hồng Kỳ
Một nhà máy FDI trị giá 1 tỉ USD rõ ràng là thành công về thu hút vốn. Nhưng nếu phần lớn máy móc, công nghệ và nguyên liệu được nhập khẩu, còn doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia những công đoạn có giá trị thấp, giá trị nền kinh tế giữ lại sẽ rất khác so với một dự án cùng quy mô nhưng hình thành được mạng lưới nhà cung cấp Việt Nam, chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ sư và kéo theo sự trưởng thành của doanh nghiệp nội địa.
Nếu chỉ có dòng vốn tốt mà thiếu doanh nghiệp đủ sức hấp thụ, Việt Nam vẫn có thể tăng trưởng nhanh, xuất khẩu vẫn có thể lập những kỷ lục mới, nhưng khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp nội địa sẽ khó được thu hẹp.
Và đây có lẽ là điểm chúng ta cần thay đổi trong cách nhìn về thành công.
Hai thập niên trước, thành công của Việt Nam được đo nhiều bằng khả năng đưa vốn vào nền kinh tế: bao nhiêu FDI đăng ký, bao nhiêu dự án mới, bao nhiêu vốn giải ngân. Những con số ấy vẫn quan trọng, nhưng trong hai thập niên tới, cần thêm một thước đo khác: chúng ta giữ lại được bao nhiêu giá trị mà dòng vốn ấy tạo ra?
Đó có thể là một doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cấp một cho tập đoàn toàn cầu, một bằng sáng chế được phát triển tại Việt Nam, một đội ngũ kỹ sư làm chủ công nghệ mới, một thương hiệu Việt đủ sức mua lại doanh nghiệp ở nước ngoài, hay đơn giản là một thế hệ doanh nghiệp nội địa có năng suất và khả năng quản trị cao hơn thế hệ trước.
Nâng hạng giúp Việt Nam bước vào một sân chơi vốn lớn hơn.
Đó mới là cuộc nâng hạng khó nhất.
Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/sau-nang-hang-dieu-gi-con-o-lai-a84296.html