Từ những thông tin liên quan vụ việc tại Tuyên Quang, có thể thấy ít nhất 4 nhóm lỗ hổng.
Cách xếp thí sinh vào phòng thi
Ông Trương Minh Hoàng (Hà Nội), từng có con thi tốt nghiệp THPT nhìn nhận, việc học sinh được thi ngay tại trường mình có ưu điểm là giảm thời gian di chuyển và tạo tâm lí ổn định. Tuy nhiên, cách tổ chức này có mặt trái, một điểm thi có thể tập trung gần như toàn bộ học sinh của một trường, trong đó có những em đã học cùng nhau nhiều năm, thậm chí cùng lớp, cùng nhóm học tập.
Cùng đó, chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang cho phép học sinh lựa chọn môn học và môn thi. Điều này dẫn đến việc khi số lượng thí sinh từng môn tự chọn bị chia nhỏ, việc xếp phòng trong phạm vi một trường càng dễ dẫn đến tình trạng những học sinh có quan hệ rất gần gũi tiếp tục gặp nhau trong phòng thi. Đây là một rủi ro mà cách tổ chức thi không trộn thí sinh giữa các trường có thể chưa tính hết.
Thực tế này dẫn đến việc một học sinh có thể trải qua nhiều lần thi chung với bạn bè trong suốt ba năm THPT. Đến kì thi tốt nghiệp, nếu tiếp tục được xếp cùng trường, cùng môn, thậm chí cùng lớp, khoảng cách giữa “quen biết” và “có thể hỗ trợ nhau trong phòng thi” bị thu hẹp đáng kể. Giả sử tại điểm thi Trường Chuyên Tuyên Quang có học sinh của 3 - 4 trường khác, tức là học sinh của các trường gần nhau được trộn tại các điểm thi thì không gian triển khai vi phạm tập thể như đã xảy ra sẽ khó hơn nhiều.
Trong khi đó, học sinh Hà Nội và rất nhiều tỉnh thành khác, khi thi tuyển sinh lớp 10 đã phải di chuyển và trộn với rất nhiều trường khác nhau, học sinh trường chuyên cũng trộn với học sinh các trường bình thường khác.
Từ các phân tích này, ông Hoàng kiến nghị sửa đổi quy chế thi, bắt buộc phải trộn học sinh ở các trường khác nhau trong 1 địa điểm thi. Đối với các tỉnh miền núi thì trộn ở phạm vi hẹp hơn. Có thể chọn 3 trường gần nhau để trộn và các cụm trường này sẽ do Sở quy định.
Theo tìm hiểu của phóng viên, tại Hà Nội, cách làm là các trường THPT có khoảng cách gần sẽ trộn học sinh để thi tốt nghiệp THPT. Vì vậy, có học sinh được dự thi tại trường đang học, có học sinh dự thi tại điểm trường khác.
Một chuyên gia xin được giấu tên cũng cho rằng, nếu một điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang có học sinh đến từ 3 - 4 trường khác nhau, khả năng tổ chức gian lận tập thể sẽ khó hơn đáng kể. Khi đó, thí sinh trong phòng không còn là một nhóm bạn học đã quen nhau từ trước và việc giám sát gian lận sẽ khách quan hơn.
Cán bộ coi thi
Hiện nay, việc cử giáo viên trường khác đến coi thi về bản chất nhằm tạo ra cơ chế giám sát chéo. Nhưng “khác trường” không đồng nghĩa tuyệt đối với “không có quan hệ”.
Theo phản ánh, tại Tuyên Quang, cán bộ coi thi được điều động chủ yếu từ các trường lân cận. Vị chuyên gia giấu tên cho hay, đây là những giáo viên có thể đã quen biết nhau trước đó.
Trong thực tế ngành giáo dục địa phương, giáo viên các trường gần nhau có thể gặp nhau thường xuyên qua các hoạt động chuyên môn, tập huấn, coi thi, chấm thi hoặc những hoạt động giáo dục khác. Vì vậy, nếu quy chế chỉ dừng ở yêu cầu “không coi học sinh trường mình” thì vẫn còn một khoảng trống quan trọng: mối quan hệ giữa chính những người được giao nhiệm vụ giám sát lẫn nhau.
Điểm trung bình các môn thi qua 2 lần thi tốt nghiệp THPT năm 2026 của điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang Đồ họa: NGHIÊM HUÊ
Hai cán bộ coi thi trong một phòng chỉ tạo thành hai lớp kiểm soát khi họ thực sự độc lập. Nếu hai người có quan hệ thân quen, sự giám sát có thể suy giảm. Nếu có sự cấu kết, nguyên tắc “hai người kiểm soát nhau” thậm chí có thể trở thành một cơ chế cùng che chắn.
Vì vậy, cần chuyển từ nguyên tắc “khác trường” sang nguyên tắc “đủ độc lập”.
Nguồn cán bộ coi thi nên được mở rộng trên phạm vi một cụm liên trường đủ lớn và việc phân công cần được thực hiện ngẫu nhiên bằng phần mềm. Không chỉ tránh việc giáo viên coi học sinh trường mình, mà còn cần hạn chế việc những người thường xuyên cùng làm nhiệm vụ tiếp tục được ghép với nhau.
Đây là một thay đổi quan trọng về tư duy: không chỉ kiểm soát quan hệ giữa cán bộ coi thi và thí sinh, mà phải kiểm soát cả quan hệ giữa các cán bộ coi thi với nhau.
Những “mắt xích” chưa được nhìn đúng mức
Một điểm dễ bị bỏ qua trong thiết kế kì thi là đội ngũ thư kí và cán bộ phục vụ. Vị chuyên gia cho rằng, quy chế quy định nhiệm vụ của thư kí nhưng hiện chưa tạo ra một giới hạn đủ chặt về số lượng nhân sự tương ứng với quy mô điểm thi. Điều này có thể dẫn tới việc từng điểm thi bố trí số người khác nhau, thậm chí nhiều hơn nhu cầu thực tế. Rủi ro đặc biệt lớn nếu thư kí là giáo viên của chính trường được sử dụng làm điểm thi và tại điểm đó có học sinh của trường mình.
Khi ấy, một người có thể đồng thời có ba đặc điểm: là giáo viên của trường sở tại, có quan hệ quen biết với học sinh và đang giữ một vị trí trong bộ máy tổ chức thi.
Nếu quy chế chỉ quản lí theo chức danh mà không quản lí theo khả năng tiếp cận, khoảng trống vẫn tồn tại. Điều tương tự cũng cần đặt ra với cán bộ phục vụ.
Nhân viên phục vụ thường được xem là lực lượng hậu cần, ít rủi ro hơn cán bộ coi thi. Nhưng nếu người này là giáo viên có chuyên môn phù hợp với môn thí sinh đang làm bài, thì bản thân họ có kiến thức để giải bài và đồng thời có điều kiện xuất hiện trong khu vực tổ chức thi. Đó là sự kết hợp mà quy chế cần chủ động loại trừ. Câu hỏi quan trọng cần đáp án đúng là người đó được phép tiếp cận khu vực nào, trong thời gian nào, có thể tiếp xúc với ai, có chuyên môn gì và có quan hệ lợi ích với thí sinh hay không?
Chồng chéo mối quan hệ
Từ các lỗ hổng trên có thể nhìn thấy một nguy cơ mang tính hệ thống. Ở phía thí sinh, nhiều em có thể cùng trường, cùng lớp, cùng môn thi và cùng phòng. Ở phía cán bộ coi thi, dù đến từ trường khác nhưng có thể cùng một nhóm trường lân cận, có quan hệ quen biết. Bên ngoài phòng thi lại có thư kí, cán bộ phục vụ, trong đó có thể có người là giáo viên của trường sở tại, quen biết thí sinh hoặc có chuyên môn phù hợp với môn thi. Như vậy, tưởng như kì thi có nhiều lớp kiểm soát nhưng các lớp kiểm soát ấy lại có thể chồng lấn về quan hệ.
Ngoài ra, một điểm thi có nhiều người chưa chắc đã an toàn hơn nếu những người đó không thực sự độc lập. Đây là điểm cần được nhìn nhận nghiêm túc từ vụ việc tại Tuyên Quang: vấn đề không chỉ là “thiếu người giám sát”, mà là thiết kế các lớp giám sát chưa chắc đã đủ độc lập để chống lại một hành vi cấu kết có tổ chức.
“An toàn phải được tạo ra bằng một hệ thống mà ngay cả khi có người nảy sinh ý định gian lận, họ cũng rất khó tìm được nhau, khó phối hợp với nhau và khó vượt qua các lớp kiểm soát độc lập”. Vị chuyên gia nói
Từ vụ việc tại Trường THPT Chuyên Tuyên Quang, giải pháp không nên chỉ dừng ở tăng thanh tra, tăng camera hoặc xử lí nghiêm những người vi phạm. Điều quan trọng hơn là phải sửa từ thiết kế của kì thi. Để đạt được điều này, quy định cần xác định và tuân thủ 4 không: Không để học sinh cùng lớp tập trung trong một phòng; không để cán bộ coi thi quen biết nhau quá sâu; không để giáo viên trường sở tại đồng thời có điều kiện tiếp cận trực tiếp học sinh trường mình; không để người có chuyên môn phù hợp với môn thi xuất hiện trong khu vực mà họ có thể hỗ trợ thí sinh.
Thí sinh dự thi tốt nghiệp lần 2 tại điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang. Ảnh: ĐỨC ANH
Một quy chế tốt không phải là quy chế có thật nhiều quy định để xử phạt sau khi gian lận xảy ra, mà là quy chế khiến việc gian lận khó tổ chức, khó thực hiện và dễ bị phát hiện.
Vụ việc tại Tuyên Quang vì thế cần được nhìn nhận như một phép thử đối với thiết kế của kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Xử lí nghiêm cá nhân vi phạm là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ.
Bài học lớn hơn là phải thiết kế lại các “mắt xích” của kì thi theo nguyên tắc: phân tán thí sinh, phân tán cán bộ, kiểm soát người có quyền tiếp cận và loại bỏ xung đột lợi ích.
Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/gian-lan-thi-cu-tai-tuyen-quang-nhan-dien-lo-hong-tu-quy-che-thi-a76239.html