Gỡ nút thắt nguồn lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Thiếu thông tin thị trường, kỹ năng nghề và việc làm phù hợp là những điểm nghẽn của nguồn lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các địa phương đề xuất đào tạo nghề phải đi cùng nhu cầu tuyển dụng và thế mạnh kinh tế từng vùng.

Tại hội thảo về thực trạng và giải pháp tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035, nhiều địa phương đã chỉ ra những “nút thắt” trong đào tạo nghề, tạo việc làm và kết nối cung - cầu lao động.

Hội thảo do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức nhằm lấy ý kiến hoàn thiện Đề án “Tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2026-2031” để trình Chính phủ.

Nút thắt từ kỹ năng đến thị trường lao động

Vùng đồng bào DTTS và miền núi có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và gìn giữ bản sắc văn hóa. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm và phát triển các ngành dịch vụ phù hợp với lợi thế địa phương không chỉ giúp người dân có sinh kế ổn định mà còn tạo động lực phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững.

W-Hội thảo do Thứ Trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nông Thị Hà chủ trì.jpg Hội thảo do Thứ Trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nông Thị Hà chủ trì. Ảnh: Trọng Bảo

Tại Lai Châu, từ các chính sách hỗ trợ của các Chương trình mục tiêu quốc gia và những chính sách, dự án khác trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã giải quyết việc làm cho hơn 60.000 lao động.

Tuy nhiên, theo ông Đèo Văn Thương, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Lai Châu, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế nhất định. 

Một bộ phận người DTTS còn hạn chế về nhận thức, tâm lý ngại đi làm xa gia đình khiến việc vận động người dân học nghề, tìm việc gặp khó.

“Trên địa bàn tỉnh Lai Châu, hiện chưa có khu công nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp quy mô nhỏ; tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ hết năm 2025 mới đạt 25,92%. Kỹ năng nghề, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng thích ứng với thị trường lao động hiện đại còn thấp nên đã ảnh hưởng đến kết quả tạo việc làm của tỉnh”, ông Thương nhấn mạnh.

W-Giám đốc Sở dân tộc và Tôn giáo Lai Châu Đèo Văn Thương phát biểu tại hội thảo.jpg Giám đốc Sở dân tộc và Tôn giáo Lai Châu Đèo Văn Thương phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Trọng Bảo

Những khó khăn này không chỉ xuất hiện ở Lai Châu.

Tại Sơn La, dù nhiều chính sách về việc làm, đào tạo nghề và phát triển sinh kế đã được triển khai, hiệu quả vẫn chưa đồng đều. Một số nơi đã hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa, du lịch cộng đồng, hợp tác xã và doanh nghiệp tạo việc làm hiệu quả. Tuy nhiên, ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, người dân vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp còn hạn chế.

“Điều này cho thấy, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào nội dung chính sách hay nguồn lực đầu tư mà còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, đặc điểm văn hóa - xã hội và năng lực tổ chức thực hiện ở từng địa phương”, ông Trà Quyết Thắng, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La phân tích.

W-Thiếu thông tin về thị trường lao động là một trong những khó khăn trong đào tào nghề và giải quyết việc làm vùng DTTS và miên núi.jpg Thiếu thông tin về thị trường lao động là một trong những khó khăn trong đào tào nghề và giải quyết việc làm vùng DTTS và miên núi. Ảnh: Trọng Bảo

Tại xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu, bài toán việc làm còn gắn với những hạn chế về hạ tầng. Quy mô nền kinh tế nhỏ, nguồn lực đầu tư hạn chế, giao thông, hạ tầng du lịch và hạ tầng số chưa đồng bộ. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có chứng chỉ nghề còn thấp, nhiều người hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng nghề và tác phong công nghiệp.

Ông Đinh Ngọc Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Sin Suối Hồ, cho rằng một điểm nghẽn khác là sản phẩm địa phương còn yếu về thương hiệu, chưa mở rộng được thị trường tiêu thụ.

“Người lao động thiếu thông tin về thị trường lao động, thiếu định hướng nghề nghiệp và thiếu kỹ năng để thích ứng với môi trường làm việc hiện đại”, ông Cường nói.

Đào tạo nghề phải đi cùng giải quyết việc làm

Thực tế cho thấy, nếu chỉ chú trọng công tác đào tạo nghề mà chưa giải quyết việc làm sau đào tạo thì mới chỉ đạt được một nửa mục tiêu – đó là cải thiện và nâng cao trình độ tay nghề lao động. Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng, việc đào tạo nghề cần gắn với tiềm năng, thế mạnh từng địa phương.

W-Cần đổi mới căn bản công tác đào tạo nghề, trong đó có việc nâng cao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp .jpg Cần đổi mới căn bản công tác đào tạo nghề, trong đó có việc nâng cao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Trọng Bảo

“Với Lai Châu chúng tôi đề nghị bên cạnh việc đầu tư về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông thì trong chiến lược đào tạo nghề cũng cần quan tâm một số vấn đề đó là: Đổi mới căn bản công tác đào tạo nghề đó là đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động. Tập trung đào tạo các nghề gắn với lợi thế địa phương như du lịch cộng đồng, chế biến nông sản, dịch vụ lưu trú, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp chất lượng cao và phát triển dược liệu. Cùng với đó, tiếp tục đào tạo nghề phi nông nghiệp để lao động của tỉnh đáp ứng với nhu cầu tuyển dụng lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ngoài tỉnh”, ông Đèo Văn Thương đề xuất.

W-Tiếp tục quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống giao thông nông thôn.jpg Tiếp tục quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống giao thông nông thôn. Ảnh: Trọng Bảo

Cùng với đó, cần có các chính sách và cơ chế đặc thù thu hút doanh nghiệp và chính sách bảo hiểm sinh kế, thu hút các doanh nghiệp chế biến, dịch vụ logistics, du lịch đầu tư vào vùng DTTS và miền núi. Các ưu đãi này có thể cụ thể như: Ưu đãi tối đa về thuế, đất đai và hỗ trợ đào tạo lao động tại chỗ cho lao động vùng DTTS và miền núi... 

“Chúng tôi mong muốn thời gian tới cần chú trọng và làm tốt công tác truyền thông, tuyên truyền; kịp thời và thường xuyên cung cấp thông tin về lao động, việc làm, ứng dụng công nghệ, nền tảng số tại cơ sở và kết nối cung – cầu lao động qua các trung tâm dịch vụ việc làm, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp cho đồng bào DTTS”, ông Ma Quang Hiếu, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Tuyên Quang kiến nghị.

Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/go-nut-that-nguon-lao-dong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-a73347.html