Dặm dài hủ tiếu - Kỳ 2: Ăn hủ tiếu nay mà nhớ hủ tiếu xưa

Đời nghề hay rong ruổi đây đó, tôi nhiều khi đói bụng ghé đại quán xá bên đường mà gặp gì ăn nấy cho qua bữa.

hủ tiếu - Ảnh 1.

Xe hủ tiếu bình dân trên hè đường Sài Gòn trước 1975 - Ảnh: Michael Burr

Nếu lang thang đất Bắc, các quán phở, bún, miến thường níu chân lữ khách. Còn miền Nam thì tôi lại hay gặp quán xá treo biển phở, cơm tấm, hủ tiếu, bánh mì.

Mà ngộ nhứt là hủ tiếu, hầu như ở đâu cũng nhiều binh thiên, từ phố về quê, từ đất liền ra đảo, bán sáng rồi bán trưa, bán chiều, bán tối, bán đêm. Và càng xuôi xuống miệt miền Tây, quán hủ tiếu hình như càng nhiều hơn.

Tô hủ tiếu chợ quê và miếng thịt gió thổi bay

Thời nay, người sành ăn vô trung tâm Sài Gòn, gọi tô hủ tiếu hơn 100.000 đồng cũng chỉ "chuyện nhỏ như con thỏ". Còn dân lao động nghèo hay kẻ rong ruổi gặp gì ăn nấy như tôi vẫn dễ dàng tìm được tô 30.000 - 40.000 đồng bên lề đường, thậm chí tô chỉ 20.000 - 25.000 cũng thơm lừng...

Bạn bè lứa trung niên của tôi bây giờ ngồi ăn tô hủ tiếu tôm mực hơn 100.000 đồng lại hay rề rà nhắc chuyện miếng ăn thiếu hụt ngày xửa ngày xưa.

Tụi tôi lớn lên thời hậu chiến, mới lẫm chẫm chưa kịp cứng cẳng cứng giò đã theo cha mẹ đi kinh tế mới miệt bưng biền phèn lợ đến con chó mực còn lòi còi chậm bự.

Ngày qua ngày, dân phố về quê chỉ quay quắt lo nghĩ miếng ăn. Người lớn thì lo chuyện ruộng đồng sao cho trừ thuế má đóng tập đoàn còn đủ gạo bén lửa nồi cơm. Sắp nhỏ như tôi nhiều đêm đi ngủ mà bụng chưa no, cứ sôi ròng rọc mà nghĩ sáng mai mình được ăn cơm nguội đến trường hay lại củ khoai lang, khoai mì hoặc nhịn đói.

Hồi đó học trò đến trường với bụng trống rỗng là bình thường. Vậy nên cứ năm ngày bảy bữa lại rộ chuyện đứa này đứa nọ xỉu dọc đường vì cái bụng đói suốt từ tối hôm qua tới trưa hôm sau.

Trên đường tôi đến trường ở vùng biên giới huyện Đức Huệ, tỉnh Long An cũ có cái chợ quê lẹp xẹp thỉnh thoảng lại thơm lừng mùi hủ tiếu. Đám nhỏ nhóc học trò vừa thèm thuồng ngó vừa... lén nuốt nước miếng, nếu không chắc chảy ra áo thiệt.

Nói thỉnh thoảng mới có mùi hủ tiếu là chính xác, vì chợ quê thời nghèo khó thì ai có tiền ăn mà bán món ngon mỗi ngày. Còn gọi quán cho oai, chứ thiệt ra chỉ là cái chòi lá che nắng mưa trên mấy cái bàn ghế tre ọp ẹp, lỏng lẻo như ông già 90.

Đến giờ tôi vẫn nhớ chủ quán Ba Bảy, một phụ nữ gốc quê Long An có cái tên thiệt ngộ, vừa lo bán hủ tiếu vừa bận trông đàn con lít nhít năm đứa mà đứa nhỏ nhứt còn bú mẹ.

Mấy ông lớn tuổi ghẹo vui: "Đẻ chi mà đẻ dữ thần thiên địa vậy bay?". "Dạ, tại vợ chồng con thức khuya canh nồi hầm nước lèo hủ tiếu, hổng biết mần gì nên xáp lại là đẻ", cô Ba Bảy hổng chịu kém miệng.

Thời này ở Sài Gòn, tôi ăn hủ tiếu thập cẩm ú hụ thịt, xương, tôm, mực, trứng cút mà cứ nhớ tô của cô Ba Bảy chỉ có nước luộc thịt hoặc lòng heo. Cô bưng lên cho khách, chỉ có chút xíu thịt và lác đác màu xanh của hành lá, mà hoàn toàn chẳng có gì thêm như bây giờ.

Tuy nhiên thuở đó dân quê nghèo được ăn tô hủ tiếu này là "ngon nhứt xứ Ba Tư" rồi. Nhiều người cả năm không dám ăn dù chỉ một lần. Tôi có bà nội bán hàng vặt ở chợ nhưng xuân thu nhị kỳ chắc cũng chỉ được ngồi quán cô Ba Bảy một, hai lần mỗi năm.

Đó cũng là lần đầu thằng nhóc tôi hiểu cái câu "đồ thái thịt mỏng như tờ giấy". Thời dân nghèo gì mà nghèo xác xơ, người ta phải thái thịt mỏng lét để giảm giá cho có khách ăn. Vậy mà nhiều người vào quán vẫn kêu tô hủ tiếu không thịt, tức chỉ có sợi hủ tiếu và nước lèo để bớt giá. Nhiều bà mẹ còn mua một tô, chia đôi hai mẹ con cùng ăn...

Nhưng tình thiệt nói nào ngay, bận đó cỡ như tôi mà được ngồi vắt vẻo trên ghế tre, ăn tô hủ tiếu không thịt của cô Ba Bảy là sang dữ thần rồi. Bạn học đi ngang chỉ tròn xoe con mắt mà nuốt nước miếng, nghĩ lại thương ơi là thương.

hủ tiếu - Ảnh 2.

Tô hủ tiếu mì gà ú hụ thời nay - Ảnh: Q.V.

Món ngon phố thị

15 năm đầu đời, tôi sống vùng kinh tế mới Long An nhưng mỗi dịp hè được trở lại thành phố vì có mẹ và bà ngoại trên đây. Đó là ba tháng tôi được ăn ngon hơn một chút và tất nhiên cũng không thể nào bằng bây giờ.

Chặng đường đầu tiên tôi ngồi chuyến đò dọc để lên vàm Trà Cú rồi đón xe lam đi thêm mấy chuyến nữa mới về đến thành phố. Giờ nghĩ lại cái chợ vàm Trà Cú đó toàn nhà lá trên sình lầy xác xơ nhưng ngày đó đối với tôi đã là phố chợ lắm rồi.

Tôi ngồi đợi xe lam mà nghe tiếng hát bolero ngọt lịm từ máy cassette. Nhưng thứ làm tôi thèm thuồng nhứt chính là quán hủ tiếu bán chung với cà phê đá thơm lừng.

Những thằng nhóc như tôi cứ tròn mắt nhìn cảnh mấy ông tấp vô quán, co ngay chân lên ghế như ngồi hầm cầu cá tra mà kêu tô hủ tiếu xì xụp ăn, sau đó lại tiếp tục nhâm nhi cà phê đá, nhả khói thuốc rê quấn tay và gật gù nghe giọng Tuấn Vũ, Hương Lan, Thanh Tuyền...

Sau này lớn thêm một chút, tôi mới hiểu dân Sài Gòn và nhiều địa phương miền Nam đã có nếp quen ra quán ăn sáng, uống cà phê. Tuy nhiên sang thời mười năm hậu chiến khó khăn, cảnh ăn uống thư thả này trở nên hiếm hơn.

Mấy ông dám ghé quán như tôi kể trên thường là cựu dân nhiều đời đã có cuộc sống tạm ổn định, hoặc là chủ đò dọc, chủ xe lam, làm nhà máy chà lúa có đồng ra đồng vô.

Nhớ lại ba tháng hè ở Sài Gòn, tôi cũng được mẹ và nhà ngoại dắt đi ăn phở, ăn hủ tiếu vài lần để "bồi dưỡng thằng nhóc miệt bưng biền còm nhom như con cò ma". Tôi dần phân biệt được hương vị phở bò khác hương vị hủ tiếu thịt heo như thế nào.

Nhà tôi ở đường Hiệp Nhất (quận Tân Bình cũ), nếu ăn phở thì ghé quán Cao Vân đầu đường. Còn ăn hủ tiếu thì cứ sà xuống ghế gỗ của mẹ con cô bán vỉa hè gần đó.

Hủ tiếu ở đây có hành khô phi mỡ thơm lừng hơn hẳn của cô Ba Bảy ở quê, nước lèo cũng ngon hơn, trong hơn nhưng mấy miếng thịt ba chỉ thì vẫn thái mỏng lét để hạp túi tiền thực khách phải ngồi quán vỉa hè.

Thỉnh thoảng được "tháp tùng" đi chợ vải vóc ở Soái Kình Lâm (quận 5 cũ), tôi mới được mẹ cho ăn hủ tiếu mì xá xíu "thứ thiệt" ở đường Châu Văn Liêm, dầu vẫn là xe hủ tiếu và bàn ghế cũ mèm bày vỉa hè.

Mấy chục năm qua rồi, tôi đã được nếm không ít thức ngon vật lạ trong đời nghề rong ruổi khắp nơi nhưng tôi vẫn đọng lại ký ức khó quên với tô hủ tiếu thơm ngon của cô chú người Hoa này.

Nếu không ăn hủ tiếu mì xá xíu, mẹ con tôi có thể chọn món hủ tiếu thập cẩm và lần đầu tiên tôi được ăn tô có con tôm đo đỏ, quả trứng cút trăng trắng, miếng bao tử heo giòn sừn sựt khác hẳn chỉ có mấy miếng thịt mỏng để gió có thể thôi bay như ở quê.

Mỗi mùa hè, tôi được lên chơi trung tâm Sài Gòn một, hai lần ở thương xá Tax và bến Bạch Đằng. Có hôm đi sớm, mẹ dắt tôi vào quán hủ tiếu ở chợ Cũ, đường Tôn Thất Đạm.

Cô chủ thấy mẹ tôi mừng như chị em lâu ngày gặp nhau, hóa ra mẹ tôi đã là khách quen của quán này từ trước năm 1975. Người lớn lâu ngày trò chuyện không dứt, còn tôi thì ngồi chễm chệ gặm xí quách ngon thiệt ngon được chủ quán thương cho thêm và uống xá xị thơm nồng...

Sang nửa cuối thập niên 1980, Sài Gòn đêm đêm vọng tiếng hủ tiếu gõ nhiều hơn. Người bán chủ yếu là dân quê lên, mà nhiều nhất là bà con Quảng Ngãi.

Xe hủ tiếu đẩy thường với một người lớn và một đứa trai nhỏ phụ bán giá bình dân. Cậu nhóc cầm ống tre đi gõ lốc cốc mời khắp cùng đường lớn, hẻm nhỏ. May mắn có ai gọi, cậu trở về xe hủ tiếu để nói người lớn làm, rồi bê tô đến tận nhà khách ăn và sau đó lại bê tô về.

Đêm lạnh nhưng các cậu bé gầy gò bán hủ tiếu gõ này lúc nào cũng vã mồ hôi trên đường.

-------------------

>> Kỳ tới: Người Quảng bán hủ tiếu

Đọc tiếp Về trang Chủ đề

Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/dam-dai-hu-tieu-ky-2-an-hu-tieu-nay-ma-nho-hu-tieu-xua-a53303.html