Dầu mỏ, vũ khí địa chính trị tối thượng - Kỳ 1: Eo biển Hormuz và sự trả thù của địa lý

Từ khi dầu mỏ là nguồn cung cấp năng lượng chính cho gần như mọi hoạt động kinh tế được xác lập vào các thập niên đầu thế kỷ trước, nguồn tài nguyên này đã luôn gắn chặt với những toan tính địa chính trị toàn cầu.

Dầu mỏ, vũ khí địa chính trị tối thượng - Kỳ 1: Eo biển Hormuz và sự trả thù của địa lý - Ảnh 1.

Eo biển Hormuz đang hết sức căng thẳng - Ảnh: Reuters

Cuộc chiến hiện giờ ở Iran, nỗ lực giành giật eo biển Hormuz cũng như kiểm soát vịnh Ba Tư chỉ là một chương nữa trong biên niên sử dài đó.

Một cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz là điều ắt phải xảy đến. Địa lý không thay đổi, dù cho các tay chơi nay đã khác.

Cấu trúc dầu mỏ Trung Đông hiện đại

Tình trạng tập trung của sản xuất dầu mỏ, vận tải quốc tế và tiền bạc ở vịnh Ba Tư đồng nghĩa eo biển Hormuz không chỉ là điểm nghẽn dòng chảy dầu khí. Xung quanh vịnh Ba Tư là nơi có khoảng 50% trữ lượng dầu đã được chứng minh của thế giới, ước tính khoảng 859 tỉ thùng, theo thời giá là khoảng 86.000 tỉ đô la, tức xấp xỉ 3 lần GDP Mỹ.

Riêng năm 2025, các công ty dầu mỏ quốc gia của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) đã đầu tư 125 tỉ đô la vào các cơ sở sản xuất.

Hỗ trợ cho đội tàu chở dầu toàn cầu gồm 7.500 tàu chủ yếu phục vụ vịnh Ba Tư là khoảng 900 chiếc tàu mẹ loại "Suezmax" (tức đi qua eo Suez thì vừa khít) có giá gần 100 triệu đô la mỗi chiếc (với yêu cầu thay thế thường xuyên do thép bị ăn mòn trong điều kiện hàng hải khắc nghiệt).

Hiện giờ, bất chấp những lời đe dọa từ Tổng thống Donald Trump, eo Hormuz vẫn đang bị phong tỏa. Iran có nguồn cung cấp gần như vô hạn khoảng 80.000 máy bay không người lái (drone) Shahed cùng năng lực sản xuất khoảng 10.000 chiếc mỗi tháng với giá chỉ 20.000 đô la mỗi chiếc.

Tất nhiên, vấn đề kiểm soát quyền tiếp cận động mạch thương mại ở vịnh Ba Tư không chỉ được đặt ra từ khi có drone.

Nó cũng lâu đời như chính lịch sử thương mại thành văn. Và không nhân vật nào trong lịch sử hiện đại hiểu điều này sâu sắc hơn Calouste Sarkis Gulbenkian, nhà tài phiệt người Armenia được thế giới biết đến với cái tên "Ngài Năm phần trăm".

Khi ngành công nghiệp dầu mỏ thế giới bắt đầu mở rộng theo cấp số nhân vào đầu thế kỷ 20, nó kế thừa cùng logic địa lý vốn đã chi phối các tuyến thương mại suốt nhiều thiên niên kỷ. Câu hỏi chỉ chuyển từ ai kiểm soát các tuyến đường mua bán gia vị và lụa là thành ai kiểm soát các mỏ dầu, đặc quyền khai thác và tuyến vận tải. Trong gần nửa thế kỷ, Gulbenkian là một câu trả lời không thể bỏ qua.

Sinh năm 1869 trong gia đình thương nhân giàu có người Armenia gốc Ottoman, ông chỉ thực sự bước chân đến mỏ dầu một lần duy nhất trong đời ở Baku vào năm 1888. Nhưng Gulbenkian thực sự là người đã định hình cấu trúc sản xuất và buôn bán dầu mỏ Trung Đông trong 60 năm tiếp theo.

Kiên nhẫn phi thường, ông đã môi giới chính cho các thỏa thuận xác định ai có quyền tiếp cận dầu mỏ và theo các điều kiện nào và trích lấy 5% cổ phần trong hầu hết các thương vụ để trở thành người giàu nhất thế giới khi ông qua đời ở Lisbon năm 1955.

Công cụ mà Gulbenkian dùng để xây dựng đế chế của ông là thỏa thuận "lằn ranh đỏ" năm 1928 vốn tập hợp BP, ExxonMobil, Total và Royal Dutch-Shell thành một liên doanh - Công ty Dầu mỏ Iraq (IPC) - để hợp tác trên toàn bộ lãnh thổ cũ của đế chế Ottoman ở châu Á. Đây là bản hiệp ước nền tảng của dầu mỏ Trung Đông hiện đại.

Điểm tối quan trọng ở đây là Gulbenkian đảm bảo rằng các mỏ dầu rộng lớn ở Mosul và Kirkuk, Iraq được kết nối với các đường ống đi ra Địa Trung Hải, một nhánh tới Haifa và một nhánh khác tới Tripoli ở Lebanon qua đường Syria và Jordan.

Cơ sở hạ tầng này là biểu tượng cho tầm nhìn chiến lược của Gulbenkian: dầu từ sâu trong nội địa Trung Đông có thể ra biển mà không cần đi qua vịnh Ba Tư. Trên thực tế, các tuyến đường ống này đã cung cấp nhiên liệu cho lực lượng Anh và Mỹ trong suốt Thế chiến 2 cho đến khi bị cắt đứt vào năm 1948 do Iraq từ chối bơm dầu qua lãnh thổ nhà nước Israel mới thành lập.

Lịch sử các đường ống dẫn dầu và tuyến hàng hải Trung Đông cũng là lịch sử thu nhỏ của địa chính trị khu vực. Mỗi đường ống và tuyến hàng hải đều phản ánh những tính toán chính trị, các liên minh và các mối quan hệ kình địch. Mỗi lần đóng cửa hoặc chuyển hướng đều phản ánh một sự thay đổi trong trật tự khu vực và rất nhiều khi là cả thế giới.

Chỉ khi cuộc khủng hoảng hiện tại ở Hormuz nổ ra, nhiều người mới bắt đầu biết tới hai hệ thống đường ống: động mạch dầu Đông - Tây của Saudi Arabia đến Yanbu trên Biển Đỏ và đường ống Habshan-Fujairah của UAE đến vịnh Oman, dù chúng được xây dựng chính xác vì các cuộc khủng hoảng vịnh Ba Tư trước đó.

Đường ống Đông - Tây của Saudi tiêu tốn hàng tỉ đô la và mất nhiều thập niên xây dựng vào đầu những năm 1980, khi chiến tranh Iran - Iraq lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại đe dọa làm gián đoạn lưu thông tàu dầu qua vịnh Ba Tư. Tuyến đường ống này dài 1.200km và có khả năng vận chuyển 7 triệu thùng mỗi ngày, suốt một thời gian dài đã không chạy hết công suất cho tới những ngày qua.

Tương tự là đường ống Habshan-Fujairah của UAE được xây dựng một phần bởi Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc với công suất nhỏ hơn: 1,8 triệu thùng mỗi ngày. Sau khi eo Hormuz bị phong tỏa, đây là những con đường thay thế quan trọng nhất hiện hữu.

Dù như giới phân tích đã lưu ý, chúng không thể thay thế khối lượng vận tải biển thông thường và vẫn có điểm yếu: cảng Fujairah của UAE đã bị drone tấn công mới vào tuần trước.

Dầu mỏ, vũ khí địa chính trị tối thượng - Kỳ 1: Eo biển Hormuz và sự trả thù của địa lý - Ảnh 2.

Pháo đài cũ của Bồ Đào Nha với các khẩu pháo nhìn ra eo biển Hormuz - Ảnh: WikiTravel

Một khuôn mẫu lặp lại

Sự tương đồng với thời đại của Gulbenkian là rất đáng kinh ngạc. Ông cũng làm ăn trong một thế giới mà hạ tầng vận chuyển dầu liên tục bị tranh chấp, phá hoại và định hướng lại bởi các lực lượng chính trị.

Đường ống từ Kirkuk đến Haifa đã trở thành nạn nhân của cuộc xung đột Ả Rập - Israel. Đường ống xuyên Ả Rập (TAPLINE), từng vận chuyển dầu thô của Saudi đến bờ biển Địa Trung Hải của Lebanon ngưng hoạt động vào năm 2002 khi các hành động thù địch trong khu vực khiến việc vận hành trở nên bất khả thi.

Hiệp định Abraham năm 2020 giữa Israel với nhiều nước vùng Vịnh và cuộc chiến Iran hiện tại đang mở ra khả năng logic địa lý Gulbenkian sẽ trở lại. Haifa, thành phố nay thuộc Israel, từng là bến cuối ở Địa Trung Hải cho dầu thô Iraq những năm 1930 sẽ là điểm ra biển lý tưởng cho dầu của cả Trung Đông nếu các bên liên quan có thể đạt được thỏa thuận.

Gulbenkian đã nhìn thấu suốt logic cơ bản: tuyến đường bộ xuyên Trung Đông bỏ qua cả Hormuz, kênh đào Suez lẫn biển Đỏ, những điểm nghẽn mà lúc này lúc khác ắt sẽ trở nên nhạy cảm về chính trị. Dầu mỏ như thế sẽ được vận chuyển rẻ hơn, an toàn hơn và có giá trị chiến lược hơn giải pháp đường biển.

Cuộc khủng hoảng Hormuz đang khẳng định logic nghiệt ngã đó. Dầu mỏ của Iraq, Kuwait và Bahrain mắc kẹt trong vịnh Ba Tư, còn cả thế giới khao khát nguồn cung. Cũng chính vì vậy, Iran hiện không chỉ phong tỏa eo Hormuz mà còn phát đi tín hiệu sẵn sàng tấn công hạ tầng trên bộ tìm cách bỏ qua họ.

Địa lý chiến lược đã được xác lập từ thời của con đường tơ lụa cổ xưa, được Gulbenkian biến thành khối tài sản khổng lồ cho riêng ông vào thế kỷ 20, giờ lại trở thành vấn đề trung tâm của cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu.

Năm thế kỷ trước cuộc khủng hoảng hiện tại, Bồ Đào Nha đứng trước thách thức địa lý tương tự với rất nhiều ngụ ý cho thời hiện đại. Sau khi hạm đội của Vasco da Gama đi qua mũi Hảo Vọng vào năm 1498, Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập một chuỗi thương điếm trải dài từ Mozambique đến Nhật Bản, được hậu thuẫn bởi các pháo hạm hùng mạnh.

Hai eo biển Hormuz và Malacca là trụ cột của quyền lực thương mại đó. Với tàu bè và pháo binh vượt trội, Bồ Đào Nha chiếm giữ các nút thắt then chốt và thiết lập một hệ thống trên thực tế là "chặn đường mãi lộ" với thương mại cả châu Á.

Hệ thống đó bao gồm những "cartaza" - chứng thư cấp quyền đi lại cho tàu thuyền đồng minh, trong khi ai không có chứng thư có thể bị tấn công và cướp bóc, tức một đường dây bảo kê dựa trên sức mạnh hải quân.

-----------------------

Trong cả Thế chiến 1 và 2, dầu mỏ vừa đóng vai trò động lực vừa là mục tiêu, điều định hình cả cục diện chiến sự lẫn để lại những hệ quả hết sức lâu dài với nhân loại.

Kỳ tới: Chiến tranh thế giới và kỷ nguyên dầu mỏ

Đọc tiếp Về trang Chủ đề

Link nội dung: https://phapluatcongdan.vn/dau-mo-vu-khi-dia-chinh-tri-toi-thuong-ky-1-eo-bien-hormuz-va-su-tra-thu-cua-dia-ly-a45522.html